Cung Mệnh và cung Thân trong Tử Vi được an từ tháng và giờ sinh âm lịch: từ cung Dần đếm thuận đến tháng sinh, rồi từ đó đếm nghịch theo giờ sinh thì được cung Mệnh, đếm thuận theo giờ sinh thì được cung Thân. Vì cách tính này, cung Thân chỉ có thể rơi vào sáu vị trí so với Mệnh: trùng Mệnh, hoặc cư ở Phúc Đức, Quan Lộc, Thiên Di, Tài Bạch, Phu Thê. Theo truyền thống, Mệnh nói về con người gốc và tiền vận, Thân nói về phần đời định hình về sau.
Bài này là phần thứ ba của loạt "Tử Vi như một hệ thống tính toán". Mọi quy tắc dưới đây đúng như cách trang lập lá số Tử Vi đang tính, và có bảng tra đầy đủ.
Cách an cung Mệnh và cung Thân theo tháng và giờ sinh
Quy tắc có ba bước:
- Lấy cung Dần làm tháng Giêng, đếm thuận (Dần, Mão, Thìn…) đến tháng sinh âm lịch. Gọi đó là cung tháng.
- Tại cung tháng, gọi là giờ Tý, đếm nghịch (lùi) theo thứ tự giờ đến giờ sinh: đó là cung Mệnh.
- Cũng tại cung tháng, gọi là giờ Tý, đếm thuận đến giờ sinh: đó là cung Thân.
Đánh số Tý = 0, Sửu = 1… Hợi = 11, cả ba bước gói thành hai dòng, đúng như mã nguồn của trang:
Mệnh = 2 + (tháng − 1) − giờ
Thân = 2 + (tháng − 1) + giờ
với "giờ" là số thứ tự canh giờ (giờ Tý = 0, giờ Sửu = 1… giờ Hợi = 11), lấy theo vòng 12.
Ví dụ (lá số giả định dùng xuyên suốt loạt bài): nam, sinh ngày 20 tháng 3 năm Canh Ngọ, giờ Tỵ. Tháng 3 rơi vào cung Thìn. Từ Thìn gọi là Tý, đếm nghịch: Thìn (Tý), Mão (Sửu), Dần (Dần), Sửu (Mão), Tý (Thìn), Hợi (Tỵ). Mệnh tại Hợi. Đếm thuận: Thìn (Tý), Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu (Tỵ). Thân tại Dậu.
Có cung Mệnh rồi, 11 cung còn lại đặt nghịch từ Mệnh theo thứ tự: Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức, Tài Bạch, Tật Ách, Thiên Di, Nô Bộc, Quan Lộc, Điền Trạch, Phúc Đức, Phụ Mẫu. Trong ví dụ, Mệnh Hợi thì Huynh Đệ ở Tuất, Phu Thê ở Dậu. Vậy cung Thân ở Dậu chính là Thân cư Phu Thê.
Bảng tra cung Mệnh theo tháng và giờ sinh
Bảng dưới sinh bằng công thức của trang. Tìm hàng tháng sinh âm lịch, cột giờ sinh, ô giao nhau là địa chi cung Mệnh.
| Tháng \ Giờ | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Dần | Sửu | Tý | Hợi | Tuất | Dậu | Thân | Mùi | Ngọ | Tỵ | Thìn | Mão |
| 2 | Mão | Dần | Sửu | Tý | Hợi | Tuất | Dậu | Thân | Mùi | Ngọ | Tỵ | Thìn |
| 3 | Thìn | Mão | Dần | Sửu | Tý | Hợi | Tuất | Dậu | Thân | Mùi | Ngọ | Tỵ |
| 4 | Tỵ | Thìn | Mão | Dần | Sửu | Tý | Hợi | Tuất | Dậu | Thân | Mùi | Ngọ |
| 5 | Ngọ | Tỵ | Thìn | Mão | Dần | Sửu | Tý | Hợi | Tuất | Dậu | Thân | Mùi |
| 6 | Mùi | Ngọ | Tỵ | Thìn | Mão | Dần | Sửu | Tý | Hợi | Tuất | Dậu | Thân |
| 7 | Thân | Mùi | Ngọ | Tỵ | Thìn | Mão | Dần | Sửu | Tý | Hợi | Tuất | Dậu |
| 8 | Dậu | Thân | Mùi | Ngọ | Tỵ | Thìn | Mão | Dần | Sửu | Tý | Hợi | Tuất |
| 9 | Tuất | Dậu | Thân | Mùi | Ngọ | Tỵ | Thìn | Mão | Dần | Sửu | Tý | Hợi |
| 10 | Hợi | Tuất | Dậu | Thân | Mùi | Ngọ | Tỵ | Thìn | Mão | Dần | Sửu | Tý |
| 11 | Tý | Hợi | Tuất | Dậu | Thân | Mùi | Ngọ | Tỵ | Thìn | Mão | Dần | Sửu |
| 12 | Sửu | Tý | Hợi | Tuất | Dậu | Thân | Mùi | Ngọ | Tỵ | Thìn | Mão | Dần |
Bảng có một tính chất dễ thấy: mỗi ô đi xuống một hàng thì tiến một cung, đi sang phải một cột thì lùi một cung. Vì thế sinh muộn một tháng mà sớm một canh giờ thì cung Mệnh giữ nguyên. Mỗi cung xuất hiện đúng 12 lần trong 144 ô, nên nếu tháng và giờ sinh phân bố đều, cung Mệnh rơi đều vào 12 cung.
Muốn tìm cung Thân, không cần bảng thứ hai. Dùng quy luật ở phần sau.
Vì sao cung Thân chỉ cư 6 cung
Lấy hiệu hai công thức trên: Thân − Mệnh = 2 × giờ. Nghĩa là cung Thân luôn cách cung Mệnh một số chẵn cung theo chiều thuận, và số đó chỉ phụ thuộc vào giờ sinh, không phụ thuộc tháng.
Vì các cung chức năng (Huynh Đệ, Phu Thê…) đặt nghịch từ Mệnh, nên đi thuận 2, 4, 6, 8, 10 cung từ Mệnh lần lượt gặp Phúc Đức, Quan Lộc, Thiên Di, Tài Bạch, Phu Thê. Đi 0 hoặc 12 cung là trùng Mệnh. Không có cách nào rơi vào các cung lẻ như Huynh Đệ, Tử Tức, Tật Ách, Nô Bộc, Điền Trạch, Phụ Mẫu.
| Giờ sinh | Thân cách Mệnh | Thân cư |
|---|---|---|
| Tý hoặc Ngọ | 0 cung | Mệnh (Thân Mệnh đồng cung) |
| Sửu hoặc Mùi | thuận 2 cung | Phúc Đức |
| Dần hoặc Thân | thuận 4 cung | Quan Lộc |
| Mão hoặc Dậu | thuận 6 cung | Thiên Di |
| Thìn hoặc Tuất | thuận 8 cung | Tài Bạch |
| Tỵ hoặc Hợi | thuận 10 cung | Phu Thê |
Bảng này là một mẹo rất tiện: chỉ cần biết giờ sinh là biết Thân cư cung nào, không cần tháng. Người sinh giờ Tỵ như ví dụ trên luôn có Thân cư Phu Thê, dù sinh tháng nào.
Một hệ quả khác: Mệnh, Quan Lộc và Tài Bạch nằm trong cùng một nhóm tam hợp, còn Thiên Di đối cung Mệnh. Vậy khi Thân cư Mệnh, Quan Lộc, Thiên Di hoặc Tài Bạch (tức sinh giờ Tý, Ngọ, Dần, Thân, Mão, Dậu, Thìn, Tuất), cung Thân nằm ngay trong tam phương tứ chính của Mệnh. Chỉ khi Thân cư Phúc Đức hoặc Phu Thê (giờ Sửu, Mùi, Tỵ, Hợi), cung Thân mới nằm ngoài vùng đó. Với 8 trên 12 canh giờ, đọc cung Mệnh đầy đủ là đã chạm tới cung Thân.
Ý nghĩa cung Mệnh và cung Thân: tiền vận và hậu vận
Lối hiểu phổ biến trong sách Việt:
- Mệnh là cái mang sẵn từ lúc sinh: khí chất, thiên hướng, cách phản ứng tự nhiên. Mệnh thường được đọc mạnh hơn cho nửa đầu đời.
- Thân là phần con người tự định hình qua trải nghiệm, chỗ đời "dồn về" về sau. Nhiều sách nói Thân bắt đầu có sức nặng từ khoảng 30 tuổi, có sách lại nói tùy đại hạn, nên mốc này không cứng.
Cách nói ngắn gọn: Mệnh trả lời câu "mình vốn là người thế nào", Thân trả lời câu "về sau mình hay xoay quanh chuyện gì". Sáu vị trí Thân cư thường được diễn giải như sau. Đây là diễn giải truyền thống, trang có trình bày lại theo hướng lợi và bất lợi:
| Thân cư | Lối hiểu thường gặp |
|---|---|
| Mệnh | Trước sau nhất quán, ít lột xác giữa đời. Hợp con đường đi đường dài một mạch. |
| Phúc Đức | Nửa sau đời quy về đời sống bên trong, sự an ổn tinh thần, gia tộc, niềm tin. |
| Quan Lộc | Đời dồn vào công việc, hay định nghĩa bản thân qua việc mình làm. |
| Thiên Di | Gắn với bên ngoài: đi xa, môi trường mới, người ngoài. Bước ra thường phát hơn ngồi yên. |
| Tài Bạch | Chuyện tiền bạc, của cải chiếm nhiều tâm trí, không nhất thiết là giàu. |
| Phu Thê | Người bạn đời ảnh hưởng lớn tới hướng đi, hơn mức thông thường. |
Khi đọc cung Thân, người xem nhìn các sao tại cung Thân như nhìn sao cung Mệnh thứ hai. Trong ví dụ, Thân cư Phu Thê ở Dậu có Liêm Trinh, Phá Quân cùng Văn Khúc, Kình Dương. Người theo lối truyền thống sẽ nói chuyện hôn nhân là trục lớn của nửa sau đời người này, với màu sắc của bộ Liêm Phá: nhiều thay đổi, cần dứt khoát. Đó là cách đọc, không phải lời phán.
Mệnh chủ và Thân chủ: hai sao "chủ" của lá số
Ngoài cung Mệnh, cung Thân, lá số còn ghi hai sao chủ. Trang tính cả hai theo địa chi năm sinh:
| Chi năm sinh | Mệnh chủ | Thân chủ (theo trang) |
|---|---|---|
| Tý | Tham Lang | Linh Tinh |
| Sửu | Cự Môn | Thiên Tướng |
| Dần | Lộc Tồn | Thiên Lương |
| Mão | Văn Khúc | Thiên Đồng |
| Thìn | Liêm Trinh | Văn Xương |
| Tỵ | Vũ Khúc | Thiên Cơ |
| Ngọ | Phá Quân | Hỏa Tinh |
| Mùi | Vũ Khúc | Thiên Tướng |
| Thân | Liêm Trinh | Thiên Lương |
| Dậu | Văn Khúc | Thiên Đồng |
| Tuất | Lộc Tồn | Văn Xương |
| Hợi | Cự Môn | Thiên Cơ |
Ở đây có hai chỗ các nguồn bất đồng, cần nói rõ:
- Mệnh chủ lấy theo gì. Câu khẩu quyết cổ "Tý thuộc Tham Lang, Sửu Hợi Môn, Dần Tuất sinh nhân thuộc Lộc Tồn…" có chữ "sinh nhân" (người sinh năm), nên một số nguồn lấy theo chi năm sinh, như trang đang làm. Nhưng nhiều sách và trang lập số hiện nay lấy Mệnh chủ theo địa chi của cung Mệnh, dùng cùng bảng sao đó. Với lá số ví dụ (năm Ngọ, Mệnh tại Hợi), lối của trang cho Mệnh chủ là Phá Quân, còn lối theo cung Mệnh cho Cự Môn.
- Thân chủ tuổi Tý và tuổi Ngọ. Khẩu quyết "Tý Ngọ an thân Linh Hỏa túc" chỉ nói Tý, Ngọ ứng với Linh Tinh, Hỏa Tinh mà không rõ sao nào ứng tuổi nào. Trang cho Tý là Linh Tinh, Ngọ là Hỏa Tinh. Một số trang Việt ghi ngược lại (Tý Hỏa Tinh, Ngọ Linh Tinh).
Các tuổi còn lại thì các nguồn thống nhất. Nếu bạn so lá số trên trang với nơi khác mà thấy lệch Mệnh chủ hoặc Thân chủ, nguyên nhân thường là hai điểm này.
Cách đọc sao chủ: không đọc ở tên sao, mà đọc ở chỗ sao đó đang đóng trên lá số. Mệnh chủ Phá Quân trong ví dụ đóng ở Dậu, tức cung Phu Thê, trùng đúng cung Thân. Hai tín hiệu cùng chỉ về một cung, nên người đọc theo lối này càng chú ý tới cung Phu Thê. Nếu theo lối Mệnh chủ là Cự Môn thì sao chủ đóng ở Dần, cung Điền Trạch, và câu chuyện khác đi. Vì vậy, đừng đặt nặng sao chủ khi các nguồn còn chưa thống nhất cả cách lấy nó.
Những trường hợp đặc biệt khi an Mệnh và Thân
- Thân Mệnh đồng cung (sinh giờ Tý hoặc Ngọ): hai cung là một. Sách thường nói người này trước sau như một, sao ở cung Mệnh ảnh hưởng gấp đôi, tốt xấu đều rõ.
- Mệnh vô chính diệu: cung Mệnh không có chính tinh nào, phải mượn sao cung đối diện. Xem bài Mệnh vô chính diệu.
- Sinh sau 23 giờ: trang tính sang ngày hôm sau, giờ Tý. Chỉ ngày âm đổi, giờ vẫn là Tý, nên cung Mệnh không đổi trừ khi ngày mới rơi sang tháng mới.
- Tháng nhuận: trang tính tháng nhuận theo số của tháng chính (nhuận tháng 4 thì tính như tháng 4). Có phái chia đôi tháng nhuận ở ngày 15, nửa sau tính sang tháng sau. Người sinh tháng nhuận nên biết điều này khi so lá số.
- Không rõ giờ sinh: cung Mệnh đổi theo từng canh giờ, nên không thể an đúng. Chỉ có một điều chắc: nếu biết chắc giờ thuộc nhóm nào trong bảng Thân cư, ta biết Thân cư cung gì.
Cung Mệnh còn là đầu vào để tính cục, bước tiếp theo trong chuỗi an sao. Xem bài Cục ngũ hành Tử Vi, rồi Cách an sao Tử Vi để thấy từ Mệnh đi đến 14 chính tinh. Muốn biết các đại hạn khởi từ cung Mệnh ra sao, đọc Đại hạn, tiểu hạn, lưu niên trong Tử Vi.
Câu hỏi thường gặp
Cung Mệnh và cung Thân khác nhau thế nào?
Cung Mệnh nói về con người gốc và thường được đọc mạnh cho nửa đầu đời. Cung Thân nói về phần đời định hình về sau, chỗ người đó hay dồn tâm sức. Mệnh có đủ một cung chức năng riêng, còn Thân luôn nằm chồng lên một trong sáu cung: Mệnh, Phúc Đức, Quan Lộc, Thiên Di, Tài Bạch, Phu Thê.
Thân cư Quan Lộc là gì?
Là khi cung Thân trùng cung Quan Lộc, xảy ra với người sinh giờ Dần hoặc giờ Thân. Theo lối hiểu truyền thống, người này định nghĩa bản thân nhiều qua công việc, nửa sau đời xoay quanh sự nghiệp.
Thân cư Phu Thê có phải lấy vợ chồng mới khá không?
Không hẳn. Lối hiểu thường gặp là người bạn đời có ảnh hưởng lớn tới hướng đi của nửa sau đời, theo chiều tốt hay chiều phải điều chỉnh tùy các sao tại cung đó. Nó không phải lời hứa hay lời cảnh báo về chuyện cưới xin.
Sinh giờ nào thì Thân Mệnh đồng cung?
Giờ Tý (23h đến 1h) hoặc giờ Ngọ (11h đến 13h). Với hai giờ này, phép đếm thuận và đếm nghịch dừng ở cùng một cung, bất kể tháng sinh.
Mệnh chủ, Thân chủ lấy theo năm sinh hay cung Mệnh?
Thân chủ thì các nguồn đều lấy theo chi năm sinh. Mệnh chủ thì có hai lối: theo chi năm sinh (trang đang dùng, dựa theo chữ "sinh nhân" trong khẩu quyết) và theo địa chi cung Mệnh (nhiều trang lập số hiện nay dùng). Hai lối có thể cho hai sao khác nhau.
Không biết giờ sinh có tìm được cung Mệnh không?
Không chính xác được, vì mỗi canh giờ đẩy cung Mệnh đi một cung. Có người lập thử cả 12 giờ rồi đối chiếu với những việc đã qua để đoán, nhưng đó chỉ là phỏng đoán.