14 chính tinh Tử Vi là 14 sao chủ của lá số, chia làm hai chòm: chòm Tử Vi có 6 sao (Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh) và chòm Thiên Phủ có 8 sao (Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân). Chúng tạo bộ khung tính cách của lá số, còn phụ tinh và Tứ Hóa tô thêm màu. Bài này đi qua từng sao, cách chúng được an, độ sáng theo cung và những bộ sao hay đi cùng nhau.
Nếu bạn chưa quen lá số, nên đọc trước bài Tử Vi Đẩu Số là gì.
Cách an 14 chính tinh: hai chòm Tử Vi và Thiên Phủ
Mọi chính tinh đều phụ thuộc vào vị trí sao Tử Vi, mà sao Tử Vi lại an theo cục và ngày sinh âm lịch. Khi đã có Tử Vi:
- Chòm Tử Vi đi nghịch từ Tử Vi: Thiên Cơ ở cung liền trước, cách một cung là Thái Dương, rồi Vũ Khúc, Thiên Đồng, cách hai cung nữa là Liêm Trinh.
- Sao Thiên Phủ đứng đối xứng với Tử Vi qua trục Dần – Thân. Tử Vi ở Dần hoặc Thân thì Thiên Phủ đồng cung; Tử Vi ở Tý thì Thiên Phủ ở Thìn; Tử Vi ở Ngọ thì Thiên Phủ ở Tuất.
- Chòm Thiên Phủ đi thuận từ Thiên Phủ: Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát liền nhau, rồi cách ba cung là Phá Quân.
Vì khoảng cách giữa các sao là cố định, nên chỉ có 12 thế sắp xếp chính tinh, ứng với 12 vị trí của Tử Vi. Đây là lý do một số cặp sao luôn đi cùng nhau, và một số cặp không bao giờ gặp nhau. 14 sao chia vào 12 cung, có cung chứa hai sao, nên lá số thường có 2 hoặc 4 cung trống, gọi là cung vô chính diệu. Riêng khi Tử Vi và Thiên Phủ đồng cung ở Dần hoặc Thân, cả 12 cung đều có chính tinh.
Trên trang lập lá số Tử Vi, chính tinh được an đúng theo quy tắc này, và phần đó các phái thống nhất.
Bảng tổng hợp 14 chính tinh
Bảng dưới ghi ngũ hành theo nguồn Việt mà trang dùng, cùng hóa khí, tức chữ Hán cô đọng bản chất mỗi sao mà sách Đẩu Số hay dùng.
| Sao | Chòm | Ngũ hành | Hóa khí | Chủ về |
|---|---|---|---|---|
| Tử Vi | Tử Vi | Dương Thổ | Tôn | Ngôi vị, uy tín, điều phối người khác |
| Thiên Cơ | Tử Vi | Âm Mộc | Thiện | Trí tuệ, mưu tính, biến đổi linh hoạt |
| Thái Dương | Tử Vi | Dương Hỏa | Quý | Tỏa sáng ra ngoài, danh tiếng, người cha |
| Vũ Khúc | Tử Vi | Âm Kim | Tài | Tiền bạc, hành động dứt khoát, kỷ luật |
| Thiên Đồng | Tử Vi | Dương Thủy | Phúc | Ôn hòa, an nhàn, khả năng hóa giải |
| Liêm Trinh | Tử Vi | Âm Hỏa | Tù | Nguyên tắc, kỷ cương, cả dục vọng và giằng co nội tâm |
| Thiên Phủ | Thiên Phủ | Thổ | Khố | Kho tàng, tích lũy, làm chỗ dựa |
| Thái Âm | Thiên Phủ | Âm Thủy | Phú | Tích chứa bên trong, tinh tế, người mẹ |
| Tham Lang | Thiên Phủ | Âm Mộc đới Thủy | Đào hoa | Ham muốn, giao tế, đa tài |
| Cự Môn | Thiên Phủ | Âm Thủy | Ám | Lời nói, tra xét, khẩu tài lẫn thị phi |
| Thiên Tướng | Thiên Phủ | Dương Thủy | Ấn | Phụ tá, tận tâm, thay mặt điều hành |
| Thiên Lương | Thiên Phủ | Dương Mộc | Ấm | Che chở, giải nạn, tư cách bậc trưởng thượng |
| Thất Sát | Thiên Phủ | Dương Kim đới Hỏa | Sát (có bản ghi Tướng) | Quyết liệt, khai phá, chịu áp lực |
| Phá Quân | Thiên Phủ | Âm Thủy | Hao | Phá cũ lập mới, thay đổi triệt để |
Lưu ý về ngũ hành: nguồn Việt và nguồn Trung Hoa lệch nhau ở vài sao. Rõ nhất là Thiên Lương, sách Việt thường ghi hành Mộc, nhiều sách Trung Hoa ghi hành Thổ. Thiên Phủ cũng có nơi ghi Dương Thổ, nơi ghi Âm Thổ. Hóa khí của Tử Vi có bản ghi Quý thay vì Tôn, của Thiên Phủ có bản ghi Quyền Phúc.
Ngoài cách chia theo chòm an sao, sách Đẩu Số còn chia Bắc Đẩu tinh (đứng đầu là Tử Vi) và Nam Đẩu tinh (đứng đầu là Thiên Phủ), còn Thái Dương, Thái Âm là trung thiên tinh. Hai cách chia này không trùng nhau, người mới dễ lẫn.
Chòm Tử Vi: sáu sao và tính chất
Tử Vi là đế tinh, chủ về ngôi thứ và khả năng đứng đầu. Thuận lợi thì có uy tín tự nhiên, biết dùng người; bất lợi thì sĩ diện, ôm việc, ra vẻ quyền uy mà thiếu thực lực. Sách xưa rất coi trọng việc Tử Vi có được "bách quan triều củng", tức có Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt hội về, hay đứng một mình.
Thiên Cơ là sao của đầu óc: tính toán, lập kế hoạch, ứng biến. Mặt trái là hay đổi ý, sa vào tính toán vụn vặt. Thiên Cơ hợp nghề tư vấn, phân tích, kỹ thuật.
Thái Dương là mặt trời, chủ về sự tỏa sáng ra bên ngoài. Độ sáng của Thái Dương phụ thuộc rõ vào cung: ở các cung "ban ngày" từ Dần đến Ngọ thì sáng, ở các cung "ban đêm" từ Thân đến Tý thì tối. Thái Dương tối không có nghĩa là xấu, mà là vất vả, cho đi nhiều mà ít được ghi nhận.
Vũ Khúc là tài tinh, chủ về tiền bạc làm ra bằng năng lực thật và tính quyết đoán. Mặt trái là cứng nhắc, cô độc, dễ va chạm.
Thiên Đồng là phúc tinh, ôn hòa, biết đủ, gặp dữ hóa lành. Mặt trái là ỷ lại, ngại va chạm, trì hoãn.
Liêm Trinh phức tạp nhất chòm này. Nó vừa là sao của nguyên tắc, kỷ cương (hợp nghề pháp luật, kiểm soát), vừa mang tính dục vọng và tranh đấu. Hóa khí là "tù", gợi hình ảnh tự trói mình vào chấp niệm.
Chòm Thiên Phủ: tám sao và tính chất
Thiên Phủ là kho, chủ về tích lũy và giữ gìn. Thuận lợi thì ổn định, là chỗ dựa cho người khác; bất lợi thì thủ cựu, giữ khư khư mà bỏ lỡ cơ hội.
Thái Âm là mặt trăng, chủ về tích chứa bên trong, tài sản ngầm, sự tinh tế. Ngược với Thái Dương, Thái Âm sáng ở các cung ban đêm (Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý) và tối ở các cung ban ngày.
Tham Lang là sao của ham muốn và sức sống: giao tế rộng, học gì cũng nhanh, biết chớp thời cơ. Mặt trái là ham nhiều thứ mà không sâu, sa đà hưởng lạc.
Cự Môn là sao của lời nói. Khi thuận thì nói có sức nặng, hợp nghề giảng dạy, luật, truyền thông; khi nghịch thì thị phi bám theo, hay nghi ngờ. Hóa khí "ám" gợi ý cái bóng che khuất ánh sáng.
Thiên Tướng là ấn tinh, chủ về vai trò phụ tá, thay mặt người khác điều hành. Thiên Tướng tốt hay xấu phụ thuộc nhiều vào các sao kẹp hai bên.
Thiên Lương là ấm tinh, chủ về che chở, giải nạn, tư cách bậc đàn anh. Hợp y, giáo, nghiên cứu. Mặt trái là cô độc vì khác người, hay dạy đời.
Thất Sát là tướng tinh, quyết liệt, dám xông pha, chịu được áp lực. Mặt trái là nóng vội, lao lực.
Phá Quân là hao tinh, phá cũ để lập mới. Khi thuận thì lật ngược tình thế; khi nghịch thì phá mà chưa kịp dựng.
Các mô tả trên là tổng hợp kiến thức phổ thông theo hướng nêu lợi và bất lợi, không quy về tốt hay xấu tuyệt đối.
Miếu, vượng, đắc, bình, hãm: độ sáng theo cung
Mỗi chính tinh có cung hợp và cung không hợp. Truyền thống chia năm mức: miếu (mạnh nhất), vượng, đắc (khá), bình (trung bình), hãm (yếu, dễ lộ mặt xấu). Bảng dưới theo nguồn Việt mà trang dùng; nguồn Việt gộp miếu và vượng làm một mức.
| Sao | Miếu / Vượng | Đắc | Hãm |
|---|---|---|---|
| Tử Vi | Dần, Thân, Thìn, Tuất, Tỵ, Ngọ | Tý, Sửu, Mùi, Hợi | không hãm (Mão, Dậu bình) |
| Thiên Cơ | Mão, Dậu, Thìn, Tuất, Tỵ, Thân, Mùi | Tý, Ngọ, Sửu | Dần, Hợi |
| Thái Dương | Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ | Sửu, Mùi | Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý |
| Vũ Khúc | Tý, Ngọ, Sửu, Mùi, Dần, Thân, Thìn, Tuất | Mão, Dậu | Tỵ, Hợi |
| Thiên Đồng | Tý, Dần, Thân | Mão, Tỵ, Hợi | Ngọ, Dậu, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi |
| Liêm Trinh | Tý, Ngọ, Dần, Thân, Thìn, Tuất | Sửu, Mùi | Tỵ, Hợi, Mão, Dậu |
| Thiên Phủ | Tý, Ngọ, Dần, Thân, Thìn, Tuất | Mùi, Hợi | không hãm (Sửu, Mão, Dậu bình) |
| Thái Âm | Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý | Sửu, Mùi | Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ |
| Tham Lang | Thìn, Tuất, Sửu, Mùi | Dần, Thân | Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Tỵ, Hợi |
| Cự Môn | Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Dần | Thân, Hợi | Tỵ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi |
| Thiên Tướng | Tý, Ngọ, Dần, Thân, Thìn, Tuất | Sửu, Mùi, Tỵ, Hợi | Mão, Dậu |
| Thiên Lương | Tý, Ngọ, Dần, Thân, Thìn, Tuất, Mão | Sửu, Mùi | Tỵ, Hợi, Dậu |
| Thất Sát | Tý, Ngọ, Dần, Thân, Tỵ, Hợi | Sửu, Mùi | Mão, Dậu, Thìn, Tuất |
| Phá Quân | Tý, Ngọ, Sửu, Mùi | Thìn, Tuất | Dần, Thân, Mão, Dậu, Tỵ, Hợi |
Cần nói thẳng: các nguồn không thống nhất về bảng này. Ví dụ Tử Vi ở Thìn, Tuất: có nguồn Việt ghi miếu vượng, có nguồn ghi hãm. Thiên Cơ ở Thìn, Tuất: nguồn Việt ghi miếu, nhiều nguồn Trung Hoa ghi bình. Trên lá số của trang, những ô có tranh cãi được đánh dấu riêng. Thêm nữa, phái Tứ Hóa (phi tinh) không dùng thuyết miếu hãm, mà luận theo đường bay của Tứ Hóa. Xem bài các trường phái Tử Vi.
Các bộ sao thường gặp: Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương...
Vì khoảng cách giữa các chính tinh cố định, một số nhóm sao luôn hội nhau ở tam phương (cung đang xét và hai cung tam hợp). Người học Tử Vi gọi tên lá số theo những bộ này.
| Bộ sao | Gồm | Khí chất chung |
|---|---|---|
| Sát Phá Tham | Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang | Động, thích thay đổi, dám mạo hiểm, đời nhiều biến chuyển |
| Cơ Nguyệt Đồng Lương | Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương | Tĩnh, mềm, hợp công việc ổn định, chuyên môn, phục vụ |
| Tử Phủ Vũ Tướng | Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Thiên Tướng | Vững, có tầm tổ chức, hợp quản lý và tài chính |
| Cự Nhật | Cự Môn, Thái Dương | Sống bằng lời nói và sự công khai, truyền thông, giảng dạy |
Sát Phá Tham luôn nằm ở thế tam hợp với nhau, nên cung nào có một sao thì hai cung tam hợp có hai sao kia. Lá số có Mệnh thuộc bộ này thường được mô tả là đời có những bước ngoặt lớn, hợp con đường tự mở hơn là leo thang từng bậc.
Cơ Nguyệt Đồng Lương gắn với cách nói xưa "Cơ Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân", ý là hợp làm công chức, làm việc trong tổ chức. Ngày nay có thể hiểu rộng là hợp nghề chuyên môn ổn định.
Tử Phủ Vũ Tướng là bộ "đế" và "kho", thường được coi là vững vàng, có tầm. Nhưng sách cũng lưu ý bộ này cần phụ tinh tốt hỗ trợ, nếu không dễ thành có danh mà thiếu thực.
Cự Nhật đồng cung ở Dần hoặc Thân. Thái Dương sáng soi vào Cự Môn, làm "tan bóng tối" của Cự Môn, nên ở Dần thường được đánh giá cao hơn ở Thân, nơi Thái Dương đã ngả về chiều.
Ngoài ra còn những cặp đồng cung đáng nhớ: Tử Vi đi với Thiên Phủ (Dần, Thân), Tham Lang (Mão, Dậu), Thiên Tướng (Thìn, Tuất), Thất Sát (Tỵ, Hợi), Phá Quân (Sửu, Mùi), và đứng một mình ở Tý, Ngọ.
Muốn biết chính tinh nào được Tứ Hóa bám vào, đọc tiếp bài Tứ Hóa trong Tử Vi.
Đọc chính tinh thế nào cho đúng
Ba lời khuyên cho người mới:
- Đừng đọc sao lẻ. Một chính tinh ở Mệnh chỉ là điểm khởi đầu. Tam phương tứ chính, phụ tinh, Tứ Hóa và Tuần Triệt có thể đổi sắc thái của nó rất nhiều.
- Đừng tuyệt đối hóa miếu hãm. Bảng độ sáng còn tranh cãi, và một sao hãm gặp Tuần Triệt có khi lại được cho là bớt xấu.
- Đọc theo lợi và bất lợi, không theo tốt và xấu. Phá Quân không "xấu", nó hợp với việc cần đổi mới và kém hợp với việc cần giữ nguyên. Thiên Đồng không "tốt", nó hợp với việc cần hòa giải và kém hợp với cạnh tranh gay gắt.
Những mô tả về chính tinh là truyền thống diễn giải, không phải kết luận khoa học. Dùng chúng như gợi ý để tự soi xét thì có ích hơn dùng như lời phán.
Câu hỏi thường gặp
14 chính tinh trong Tử Vi gồm những sao nào?
Chòm Tử Vi có Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh. Chòm Thiên Phủ có Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân. Tổng cộng 14 sao.
Chính tinh nào tốt nhất?
Không có chính tinh nào tốt nhất trong mọi trường hợp. Tử Vi và Thiên Phủ thường được coi là vững, nhưng nếu thiếu sao hỗ trợ hoặc gặp sát tinh thì cũng có mặt yếu. Thất Sát, Phá Quân hay bị coi là dữ, nhưng ở cung miếu và hội cát tinh thì được xem là cách người dám làm việc lớn.
Sao hãm địa ở Mệnh có đáng lo không?
Không cần lo. Hãm chỉ có nghĩa là sao ấy khó phát huy mặt mạnh ở vị trí đó và dễ lộ mặt yếu. Bảng miếu hãm còn khác nhau giữa các nguồn, và còn phải xét phụ tinh, Tứ Hóa, Tuần Triệt. Hiểu mặt yếu của mình để chủ động điều chỉnh là cách dùng lành mạnh nhất.
Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang ở Mệnh nghĩa là gì?
Đó là bộ Sát Phá Tham, thường được mô tả là tính cách năng động, thích thay đổi, dám mạo hiểm, đời có nhiều bước ngoặt. Bộ này hợp với việc khai phá, khởi nghiệp hơn là việc đều đều. Đây là xu hướng theo truyền thống, không phải định mệnh.
Vì sao có cung không có chính tinh nào?
Vì 14 sao xếp theo khoảng cách cố định vào 12 cung, có cung chứa hai sao nên sẽ có cung trống. Cung trống gọi là vô chính diệu, khi luận phải mượn sao ở cung đối diện. Xem bài Mệnh vô chính diệu.