Cách gieo quẻ Kinh Dịch phổ biến nhất là dùng ba đồng xu, gieo sáu lần, mỗi lần cho một hào, đi từ dưới lên. Mỗi lần gieo cho tổng điểm 6, 7, 8 hoặc 9; hào 6 và 9 là hào động, đổi âm dương để ra quẻ biến. Sau đó đọc lời quẻ hoặc lời hào tùy số hào động.
Phép này gọi là kim tiền khóa (gieo quẻ bằng tiền đồng), tương truyền có từ thời Hán, Đường và phổ biến rộng từ đời Tống, như một cách làm gọn thay cho phép cỏ thi cổ. Bài này đi từng bước, kèm một ví dụ cụ thể, và nói rõ chỗ nào các sách đọc quẻ khác nhau.
Trước khi gieo: đặt câu hỏi cho tốt
Quẻ Kinh Dịch nói về tình thế và cách ứng xử, không trả lời con số hay tên người. Câu hỏi càng rõ thì lời quẻ càng dễ áp vào. Lời quẻ Mông (số 4) có câu mà người học Dịch hay nhắc: lần đầu hỏi thì được đáp, hỏi lại hai ba lần là nhờn, nhờn thì không đáp. Ý là một việc chỉ nên hỏi một lần, với lòng nghiêm túc.
| Nên hỏi | Không nên hỏi |
|---|---|
| "Tôi nên ứng xử thế nào nếu nhận lời mời làm việc ở công ty mới?" | "Năm sau tôi có giàu không?" |
| "Mối quan hệ này đang ở tình thế nào, tôi nên làm gì?" | "Người yêu tôi tên gì?" |
| "Nếu mở quán vào lúc này thì cần lưu ý điều gì?" | "Hỏi chung chung về cuộc đời" |
| Một việc cụ thể, trong khoảng thời gian gần | Hỏi đi hỏi lại một việc đến khi ra quẻ ưng ý |
Vài nguyên tắc nhỏ:
- Hỏi việc của mình, việc mình có thể hành động. Hỏi chuyện của người khác khi họ không biết là thiếu tôn trọng, và cũng khó áp dụng.
- Hỏi "nên làm thế nào" thay vì "có hay không". Kinh Dịch giỏi chỉ hướng ứng xử hơn là phán có hay không.
- Viết câu hỏi ra giấy trước khi gieo. Sau này đọc lại sẽ thấy mình đã hỏi gì, tránh tự uốn lời quẻ theo ý muốn.
- Chuyện sức khỏe, pháp lý, tiền bạc lớn thì quẻ chỉ để suy ngẫm; quyết định nên dựa trên ý kiến của bác sĩ, luật sư, chuyên gia tài chính.
Chuẩn bị ba đồng xu
Bạn cần ba đồng xu giống nhau. Xu cổ lỗ vuông là truyền thống, nhưng xu thường hoàn toàn dùng được. Điều quan trọng là quy ước mặt nào là dương, mặt nào là âm, rồi giữ nguyên quy ước đó.
Cách tính điểm phổ biến: mặt dương tính 3 điểm, mặt âm tính 2 điểm. Sách xưa không thống nhất mặt có chữ là âm hay dương; có sách lấy mặt chữ làm âm, có sách ngược lại. Không có cách nào "đúng hơn", chỉ cần chọn một và nhất quán.
Gieo sáu lần: 6, 7, 8, 9 nghĩa là gì?
Lắc ba đồng xu trong lòng bàn tay, thả xuống, cộng điểm. Ba đồng xu cho bốn khả năng:
| Ba đồng xu | Tổng | Tên gọi | Vẽ hào | Động? |
|---|---|---|---|---|
| 3 mặt âm | 6 | Lão âm | Vạch đứt, đánh dấu ✕ | Động, sẽ thành dương |
| 1 dương, 2 âm | 7 | Thiếu dương | Vạch liền | Tĩnh |
| 2 dương, 1 âm | 8 | Thiếu âm | Vạch đứt | Tĩnh |
| 3 mặt dương | 9 | Lão dương | Vạch liền, đánh dấu ○ | Động, sẽ thành âm |
Mẹo nhớ: hai số lẻ 7, 9 là dương; hai số chẵn 6, 8 là âm. Còn "lão" (già) thì đã đến cực điểm, nên phải chuyển sang mặt kia, đúng lẽ "vật cực tất phản". Đó cũng là lý do Kinh Dịch gọi hào dương là Cửu (9), hào âm là Lục (6): sách lấy hào động làm tên chung.
Các bước:
- Tĩnh tâm, đọc thầm câu hỏi đã viết.
- Gieo lần thứ nhất, ghi hào dưới cùng (hào Sơ).
- Gieo tiếp năm lần, mỗi lần vẽ hào mới chồng lên trên hào trước. Lần thứ sáu là hào Thượng.
- Đánh dấu những hào có tổng 6 hoặc 9, đó là hào động.
- Ba hào dưới là quẻ hạ, ba hào trên là quẻ thượng. Tra bảng 64 quẻ để ra quẻ chủ (còn gọi quẻ bản).
- Nếu có hào động, đổi từng hào động sang ngược lại (dương thành âm, âm thành dương), giữ nguyên các hào tĩnh. Quẻ mới là quẻ biến (còn gọi chi quái).
Nếu chưa quen quẻ thượng, quẻ hạ, bài Kinh Dịch là gì giải thích cấu trúc này, và bài bát quái tiên thiên, hậu thiên có bảng tám quẻ đơn.
Ví dụ: một quẻ có hai hào động
Giả sử sáu lần gieo cho các tổng, từ dưới lên: 7, 8, 9, 7, 6, 8.
- Hào 1: 7, dương tĩnh.
- Hào 2: 8, âm tĩnh.
- Hào 3: 9, dương động.
- Hào 4: 7, dương tĩnh.
- Hào 5: 6, âm động.
- Hào 6: 8, âm tĩnh.
Ba hào dưới là dương, âm, dương: quẻ Ly (lửa). Ba hào trên là dương, âm, âm (từ dưới lên): quẻ Chấn (sấm). Sấm trên lửa dưới là quẻ 55 Lôi Hỏa Phong.
Đổi hai hào động: hào 3 dương thành âm, hào 5 âm thành dương. Quẻ hạ thành dương, âm, âm là Chấn; quẻ thượng thành dương, dương, âm là Đoài (đầm). Đầm trên sấm dưới là quẻ 17 Trạch Lôi Tùy.
Đọc thô: tình thế hiện tại là Phong, thịnh vượng đầy đặn nhưng như mặt trời đứng bóng, sắp xế. Hướng chuyển là Tùy, thuận theo, đi theo người và thời thế. Trọng tâm nằm ở lời hào 3 và hào 5 của quẻ Phong, lấy hào 5 (hào trên) làm chủ.
Đọc quẻ theo số hào động
Đây là chỗ các sách không thống nhất. Quy tắc được dẫn nhiều nhất là của Chu Hy đời Tống, trong sách Dịch Học Khải Mông:
| Số hào động | Đọc gì (theo Chu Hy) |
|---|---|
| 0 | Lời quẻ (thoán từ) của quẻ chủ |
| 1 | Lời hào động đó của quẻ chủ |
| 2 | Lời hai hào động của quẻ chủ, lấy hào trên làm chủ |
| 3 | Lời quẻ của cả quẻ chủ và quẻ biến; quẻ chủ là gốc, quẻ biến là hướng đi |
| 4 | Lời hai hào không động của quẻ biến, lấy hào dưới làm chủ |
| 5 | Lời hào không động duy nhất của quẻ biến |
| 6 | Quẻ Càn đọc "Dụng Cửu", quẻ Khôn đọc "Dụng Lục"; các quẻ khác đọc lời quẻ của quẻ biến |
Ngoài cách này còn nhiều cách khác. Có người luôn đọc mọi hào động rồi tổng hợp. Phái Mai Hoa Dịch Số (gắn với Thiệu Ung) chú trọng quan hệ ngũ hành giữa quẻ "thể" và quẻ "dụng". Phái Lục Hào (bốc dịch theo sách Tăng San Bốc Dịch) gần như không đọc lời kinh, mà gán can chi, lục thân cho từng hào rồi xét sinh khắc. Các cách đều có người theo; chưa có cách nào được chứng minh là "đúng hơn".
Trang này đọc thế nào?
Trang gieo quẻ Kinh Dịch của Huyền dùng một bản rút gọn, gần với Chu Hy ở số hào động ít:
| Số hào động | Trang Huyền hướng dẫn |
|---|---|
| 0 | Xem lời quẻ của quẻ chủ; tình thế ổn định, chưa chuyển biến |
| 1 | Trọng tâm ở hào động đó; quẻ biến cho biết kết cục |
| 2 hoặc 3 | Xem các hào động, lấy hào động trên cùng làm chủ; quẻ biến chỉ hướng đi |
| 4 trở lên | Biến động lớn; chủ yếu xem lời quẻ của quẻ biến, quẻ chủ là bối cảnh |
Khác Chu Hy ở hai điểm: với ba hào động, trang vẫn đọc các hào thay vì chỉ đọc lời quẻ; với bốn, năm hào động, trang đọc lời quẻ biến thay vì các hào tĩnh của quẻ biến. Chúng tôi chọn vậy cho dễ theo với người mới. Nếu bạn quen quy tắc Chu Hy, cứ đọc theo Chu Hy; quẻ chủ, hào động và quẻ biến trang hiện ra là như nhau.
Phép cỏ thi: cách gieo cổ nhất
Trước khi có đồng xu, người xưa bói bằng cỏ thi (thân cây thi, một loại cỏ thẳng). Hệ Từ truyện viết: "Đại diễn chi số ngũ thập, kỳ dụng tứ thập hữu cửu", tức số đại diễn là năm mươi, dùng bốn mươi chín. Người bói rút ra một cọng để riêng, chia 49 cọng còn lại làm hai, đếm theo từng bốn cọng, qua ba lần "biến" mới ra một hào, mười tám lần biến mới ra một quẻ. Mỗi quẻ mất chừng nửa giờ hoặc lâu hơn.
Điều ít người để ý: xác suất của cỏ thi khác đồng xu.
| Hào | Ba đồng xu | Cỏ thi |
|---|---|---|
| 6, lão âm (động) | 1/8 (12,5%) | 1/16 (6,25%) |
| 7, thiếu dương | 3/8 (37,5%) | 5/16 (31,25%) |
| 8, thiếu âm | 3/8 (37,5%) | 7/16 (43,75%) |
| 9, lão dương (động) | 1/8 (12,5%) | 3/16 (18,75%) |
Cả hai phép đều cho âm và dương mỗi bên một nửa. Nhưng với cỏ thi, hào dương động nhiều gấp ba hào âm động, còn với đồng xu thì bằng nhau. Một số người học Dịch cho rằng cỏ thi phản ánh đúng tính "dương động, âm tĩnh" hơn. Một số khác cho rằng đây chỉ là đặc điểm toán học của cách đếm. Nếu muốn có xác suất như cỏ thi mà vẫn nhanh, có người dùng 16 viên bi bốn màu theo tỉ lệ 1, 5, 7, 3.
Trang Huyền gieo quẻ như thế nào?
Khi bạn bấm "Gieo quẻ" trên trang /kinh-dich, máy làm đúng các bước ở trên:
- Với mỗi hào, máy "tung" ba đồng xu ảo, mỗi đồng có một nửa khả năng ra mặt dương. Tổng là 6 cộng số mặt dương, nên ra 6, 7, 8 hoặc 9 với xác suất giống hệt ba đồng xu thật.
- Làm vậy sáu lần, từ hào Sơ lên hào Thượng.
- Tra quẻ chủ theo bảng 64 quẻ thứ tự Văn Vương, đổi các hào động để ra quẻ biến.
- Hiện hướng dẫn đọc theo số hào động như bảng ở trên, kèm lời luận tóm tắt.
Máy dùng bộ sinh số giả ngẫu nhiên. Điều đó không khác về bản chất so với đồng xu: cả hai đều là cơ chế mà người hỏi không điều khiển được kết quả. Còn khi bạn hỏi Thầy Huyền trong mục tư vấn, quẻ được lập từ chính câu chữ của câu hỏi, nên cùng một câu hỏi sẽ ra cùng một quẻ. Muốn gieo lại thì phải hỏi khác đi, cũng hợp với lời khuyên "một việc hỏi một lần".
Muốn hiểu kỹ một quẻ cụ thể, có thể đọc bài luận giải quẻ Thuần Càn và Thuần Khôn, hai quẻ mở đầu và là chìa khóa của cả bộ sách.
Câu hỏi thường gặp
Gieo quẻ Kinh Dịch bằng đồng xu có chính xác không?
Không có nghiên cứu khoa học nào cho thấy quẻ gieo được dự đoán đúng tương lai hơn mức ngẫu nhiên. Giá trị thực tế của gieo quẻ nằm ở chỗ nó buộc ta đặt câu hỏi rõ ràng và nhìn tình thế qua một góc khác. Bài Kinh Dịch: bói toán hay triết học bàn kỹ chuyện này.
Mặt nào của đồng xu là âm, mặt nào là dương?
Sách không thống nhất. Cách phổ biến là mặt dương tính 3 điểm, mặt âm tính 2 điểm, còn mặt nào là dương thì bạn tự quy ước trước khi gieo và giữ nguyên về sau.
Hào động là gì?
Hào động là hào gieo ra tổng 6 (lão âm) hoặc 9 (lão dương). Nó đã đến cực điểm nên sẽ chuyển sang mặt ngược lại. Hào động là chỗ tình thế đang thay đổi, nên thường là trọng tâm khi đọc quẻ.
Không có hào động thì đọc thế nào?
Đọc lời quẻ (thoán từ) và lời Tượng của quẻ chủ. Không có quẻ biến; tình thế được xem là đang ổn định.
Có được gieo lại khi không thích quẻ không?
Theo truyền thống thì không nên. Lời quẻ Mông nhắc rằng hỏi lần đầu thì được đáp, hỏi đi hỏi lại là nhờn. Nếu thấy quẻ khó hiểu, hãy đọc lại kỹ hoặc hỏi người hiểu Dịch, thay vì gieo đến khi ra quẻ đẹp.
Có cần thắp hương, khấn vái trước khi gieo quẻ không?
Không bắt buộc. Thắp hương là một nghi thức giúp nhiều người tĩnh tâm. Điều cốt lõi các sách nhấn mạnh là lòng nghiêm túc và câu hỏi rõ ràng, chứ không phải đồ lễ.