Cung phi bát trạch (còn gọi là quái mệnh hay cung mệnh) là một trong tám quẻ Bát Quái gắn với mỗi người, tính từ năm sinh âm lịch và giới tính. Từ cung phi, trường phái Bát Trạch suy ra bốn hướng tốt và bốn hướng xấu của người đó, rồi dùng để chọn hướng cửa, hướng giường, hướng bếp. Muốn tính cung phi, bạn chỉ cần năm sinh, giới tính và một phép cộng.
Bài này đi từng bước: cung phi là gì, công thức tính, trường hợp ra số 5, chuyện năm sinh lấy theo Tết hay Lập Xuân, hai nhóm Đông tứ mệnh và Tây tứ mệnh, tám du niên, và một bảng tra sẵn cho các năm sinh 1970–2010.
Cung phi là gì, khác gì "mệnh Kim, mệnh Thổ"?
Nhiều người nghe "tôi mệnh Thổ" rồi lại nghe "tôi cung Khảm" mà không hiểu sao một người có hai thứ mệnh. Thực ra đó là hai hệ khác nhau:
- Mệnh nạp âm (Hải Trung Kim, Lộ Bàng Thổ...) lấy từ cặp can chi của năm sinh trong 60 năm hoa giáp. Nam nữ cùng năm sinh thì cùng mệnh nạp âm. Xem thêm ở bài thiên can địa chi.
- Cung phi lấy từ Cửu Cung Lạc Thư: chín ô số từ 1 đến 9, mỗi ô ứng với một quẻ và một hướng. Nam nữ cùng năm sinh thường khác cung phi.
Ví dụ người sinh năm 1990 (Canh Ngọ) có mệnh nạp âm là Lộ Bàng Thổ, nhưng nam thuộc cung Khảm (Thủy), nữ thuộc cung Cấn (Thổ). Phong thủy Bát Trạch chỉ dùng cung phi để xét hướng; mệnh nạp âm thường được dùng để chọn màu sắc, xét tương sinh tương khắc theo âm dương ngũ hành.
Chín ô Lạc Thư gắn với tám quẻ theo Bát quái Hậu Thiên (Văn Vương): 1 Khảm, 2 Khôn, 3 Chấn, 4 Tốn, 5 trung cung, 6 Càn, 7 Đoài, 8 Cấn, 9 Ly. Ô số 5 nằm giữa, không có quẻ nào, nên cần quy ước riêng (xem phần dưới). Muốn hiểu vì sao các quẻ đứng ở đúng những hướng đó, đọc bài Bát quái Tiên Thiên và Hậu Thiên.
Cách tính cung phi theo năm sinh và giới tính
Cách tính phổ biến nhất ở Việt Nam dùng hai chữ số cuối của năm sinh âm lịch:
- Cộng hai chữ số cuối của năm sinh. Nếu kết quả có hai chữ số thì cộng tiếp cho đến khi còn một chữ số (gọi là số rút gọn).
- Với nam: sinh trước năm 2000 lấy 10 trừ số rút gọn; sinh từ năm 2000 lấy 9 trừ số rút gọn. Ra 0 thì coi là 9.
- Với nữ: sinh trước năm 2000 lấy 5 cộng số rút gọn; sinh từ năm 2000 lấy 6 cộng số rút gọn. Ra số lớn hơn 9 thì cộng các chữ số lại (14 thành 5, 15 thành 6...).
- Đối chiếu số cuối cùng với quẻ: 1 Khảm, 2 Khôn, 3 Chấn, 4 Tốn, 6 Càn, 7 Đoài, 8 Cấn, 9 Ly. Ra 5 thì xem mục kế tiếp.
Ví dụ tính tay
| Năm sinh | Giới tính | Phép tính | Kết quả | Cung phi |
|---|---|---|---|---|
| 1990 | Nam | 9 + 0 = 9; 10 − 9 | 1 | Khảm |
| 1990 | Nữ | 5 + 9 = 14 → 1 + 4 | 5 | Cấn (số 5 với nữ) |
| 1988 | Nam | 8 + 8 = 16 → 7; 10 − 7 | 3 | Chấn |
| 1986 | Nam | 8 + 6 = 14 → 5; 10 − 5 | 5 | Khôn (số 5 với nam) |
| 2000 | Nam | 0 + 0 = 0; 9 − 0 | 9 | Ly |
| 2000 | Nữ | 6 + 0 | 6 | Càn |
| 2009 | Nam | 0 + 9 = 9; 9 − 9 = 0 | 9 | Ly |
Công thức này từ đâu ra?
Công thức cộng trừ ở trên thực chất là cách viết gọn của phép đếm Cửu Cung theo Tam Nguyên. Thời gian được chia thành ba "nguyên", mỗi nguyên 60 năm. Năm Giáp Tý 1984 mở đầu Hạ Nguyên: nam khởi ở cung 7 (Đoài) rồi mỗi năm đếm lùi một cung, nữ khởi ở cung 8 (Cấn) rồi mỗi năm đếm tiến một cung. Vì thế năm 1985 nam là cung 6 (Càn), nữ là cung 9 (Ly), và cứ thế tiếp.
"Nam nghịch, nữ thuận" là nguyên tắc chung của Bát Trạch: dương đi lùi, âm đi tiến trong vòng Lạc Thư. Nhờ quy luật này mà cung phi của nam và nữ cùng năm luôn cộng lại thành 6 hoặc 15 trước khi quy đổi số 5.
Trường hợp ra số 5: nam là Khôn, nữ là Cấn
Số 5 là trung cung, nằm giữa Lạc Thư, không ứng với hướng nào. Bát Trạch cần mỗi người thuộc một trong tám hướng, nên phải gửi số 5 sang một quẻ khác. Quy ước phổ biến:
- Nam ra số 5 thì lấy Khôn (Tây Nam, hành Thổ).
- Nữ ra số 5 thì lấy Cấn (Đông Bắc, hành Thổ).
Cả Khôn và Cấn đều là quẻ hành Thổ, cùng hành với trung cung, nên việc "gửi" này có lý do trong hệ thống. Trang Huyền cũng tính theo quy ước này.
Ví dụ nam sinh 1986: 8 + 6 = 14, rút gọn còn 5, lấy 10 − 5 = 5, nên thuộc cung Khôn. Nữ sinh 1990: 9 + 0 = 9, lấy 5 + 9 = 14, rút gọn còn 5, nên thuộc cung Cấn. Đây là hai trường hợp người ta hay tính nhầm nhất, vì quên mất bước quy đổi số 5.
Năm sinh tính theo Tết hay theo Lập Xuân?
Đây là chỗ các nguồn bất đồng thật sự, và ảnh hưởng tới người sinh vào tháng 1 hoặc đầu tháng 2 dương lịch.
- Theo Tết âm lịch: năm mới bắt đầu từ mùng 1 tháng Giêng. Đây là cách làm quen thuộc ở Việt Nam, và là cách trang Huyền dùng cho cung phi: khi bạn nhập ngày tháng sinh dương lịch, hệ thống đổi sang âm lịch rồi lấy năm âm lịch để tính.
- Theo Lập Xuân: năm mới bắt đầu khi Mặt Trời tới kinh độ 315°, rơi vào khoảng 3–5/2 dương lịch. Nhiều thầy Trung Hoa và các trường phái dùng tiết khí (như Huyền Không, Bát Tự) theo cách này.
Ví dụ: năm 1996, Lập Xuân rơi vào khoảng 4/2 nhưng Tết Bính Tý mãi tới 19/2 mới đến. Một bé trai sinh ngày 10/2/1996:
- Theo Tết: chưa qua mùng 1, vẫn thuộc năm Ất Hợi 1995, cung Khôn (Tây tứ mệnh).
- Theo Lập Xuân: đã sang năm Bính Tý 1996, cung Tốn (Đông tứ mệnh).
Hai cách cho ra hai nhóm trái ngược nhau. Chuyện "sinh trước Tết là tuổi nào" được phân tích kỹ hơn ở bài sinh gần Tết thì tính tuổi nào. Nếu bạn sinh đúng vào khoảng giữa Lập Xuân và Tết, hãy tính thử cả hai cách và biết rằng hai trường phái cho hai kết quả.
Đông tứ mệnh và Tây tứ mệnh
Tám cung phi chia làm hai nhóm, mỗi nhóm bốn cung. Bốn cung trong cùng một nhóm có hướng tốt nằm gọn trong bốn hướng của nhóm mình.
| Cung | Số Lạc Thư | Hướng gốc | Hành | Nhóm |
|---|---|---|---|---|
| Khảm | 1 | Bắc | Thủy | Đông tứ mệnh |
| Ly | 9 | Nam | Hỏa | Đông tứ mệnh |
| Chấn | 3 | Đông | Mộc | Đông tứ mệnh |
| Tốn | 4 | Đông Nam | Mộc | Đông tứ mệnh |
| Càn | 6 | Tây Bắc | Kim | Tây tứ mệnh |
| Khôn | 2 | Tây Nam | Thổ | Tây tứ mệnh |
| Cấn | 8 | Đông Bắc | Thổ | Tây tứ mệnh |
| Đoài | 7 | Tây | Kim | Tây tứ mệnh |
Hệ quả thực tế rất gọn: người Đông tứ mệnh hợp bốn hướng Bắc, Nam, Đông, Đông Nam; người Tây tứ mệnh hợp bốn hướng Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc, Tây. Nhà cũng được chia nhóm theo hướng tọa (hướng lưng nhà): "Đông tứ trạch" và "Tây tứ trạch". Sách Bát Trạch Minh Kính, cuốn sách được dùng rộng rãi nhất của trường phái này, đặt nguyên tắc người nào ở nhà nấy: Đông mệnh ở Đông trạch, Tây mệnh ở Tây trạch.
Tám du niên: Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị và bốn hướng hung
"Du niên" là tên gọi tám loại khí mà Bát Trạch gán cho tám hướng, tính từ cung phi của từng người. Cách suy ra du niên dựa trên việc đổi hào: lấy quẻ của mình so với quẻ ở mỗi hướng, xem khác nhau ở hào nào thì ra du niên ấy. Vì thế bảng du niên đối xứng: nếu Khảm có Sinh Khí ở Tốn thì Tốn cũng có Sinh Khí ở Khảm.
| Du niên | Tốt / xấu | Ý nghĩa truyền thống | Thường dùng cho |
|---|---|---|---|
| Sinh Khí | Tốt nhất | Sinh sôi, tài lộc, thăng tiến | Cửa chính, bàn làm việc, giường |
| Thiên Y | Tốt | Sức khỏe, quý nhân giúp đỡ | Giường ngủ, phòng người già |
| Diên Niên | Tốt | Hòa thuận, các mối quan hệ bền | Phòng ngủ vợ chồng, phòng khách |
| Phục Vị | Tốt vừa | Yên ổn, tập trung, học hành | Bàn học, phòng thờ |
| Tuyệt Mệnh | Xấu nhất | Tổn hại lớn, bệnh nặng | Đặt bếp, nhà vệ sinh, kho |
| Ngũ Quỷ | Xấu | Thị phi, mất mát, hỏa hoạn | Kho, nhà vệ sinh, cầu thang |
| Lục Sát | Xấu | Kiện tụng, bất hòa, hao tài | Nhà vệ sinh, kho |
| Họa Hại | Xấu nhẹ | Thất bại vặt, cãi vã | Kho, lối đi phụ |
Phần "ý nghĩa" là cách sách cổ mô tả, không phải lời tiên đoán. Đọc nó như một hệ quy ước để sắp xếp không gian thì hữu ích hơn là lo lắng vì "nhà mình rơi vào Ngũ Quỷ".
Bốn hướng tốt của từng cung phi
| Cung | Sinh Khí | Thiên Y | Diên Niên | Phục Vị |
|---|---|---|---|---|
| Khảm | Đông Nam | Đông | Nam | Bắc |
| Ly | Đông | Đông Nam | Bắc | Nam |
| Chấn | Nam | Bắc | Đông Nam | Đông |
| Tốn | Bắc | Nam | Đông | Đông Nam |
| Càn | Tây | Đông Bắc | Tây Nam | Tây Bắc |
| Khôn | Đông Bắc | Tây | Tây Bắc | Tây Nam |
| Cấn | Tây Nam | Tây Bắc | Tây | Đông Bắc |
| Đoài | Tây Bắc | Tây Nam | Đông Bắc | Tây |
Bốn hướng xấu của từng cung phi
| Cung | Tuyệt Mệnh | Ngũ Quỷ | Lục Sát | Họa Hại |
|---|---|---|---|---|
| Khảm | Tây Nam | Đông Bắc | Tây Bắc | Tây |
| Ly | Tây Bắc | Tây | Tây Nam | Đông Bắc |
| Chấn | Tây | Tây Bắc | Đông Bắc | Tây Nam |
| Tốn | Đông Bắc | Tây Nam | Tây | Tây Bắc |
| Càn | Nam | Đông | Bắc | Đông Nam |
| Khôn | Bắc | Đông Nam | Nam | Đông |
| Cấn | Đông Nam | Bắc | Đông | Nam |
| Đoài | Đông | Nam | Đông Nam | Bắc |
Để ý: bốn hướng tốt của người Đông tứ mệnh luôn là Bắc, Nam, Đông, Đông Nam, chỉ khác nhau ở chỗ hướng nào là Sinh Khí, hướng nào là Thiên Y. Tây tứ mệnh cũng vậy với bốn hướng còn lại.
Bảng cung phi theo năm sinh 1970–2010
Bảng dưới tính theo công thức ở trên, năm sinh là năm âm lịch (sinh trước Tết thì tra năm trước). Trong ngoặc là nhóm: Đông tứ mệnh hoặc Tây tứ mệnh.
| Năm sinh | Can chi | Nam | Nữ |
|---|---|---|---|
| 1970 | Canh Tuất | Chấn (Đông) | Chấn (Đông) |
| 1971 | Tân Hợi | Khôn (Tây) | Tốn (Đông) |
| 1972 | Nhâm Tý | Khảm (Đông) | Cấn (Tây) |
| 1973 | Quý Sửu | Ly (Đông) | Càn (Tây) |
| 1974 | Giáp Dần | Cấn (Tây) | Đoài (Tây) |
| 1975 | Ất Mão | Đoài (Tây) | Cấn (Tây) |
| 1976 | Bính Thìn | Càn (Tây) | Ly (Đông) |
| 1977 | Đinh Tỵ | Khôn (Tây) | Khảm (Đông) |
| 1978 | Mậu Ngọ | Tốn (Đông) | Khôn (Tây) |
| 1979 | Kỷ Mùi | Chấn (Đông) | Chấn (Đông) |
| 1980 | Canh Thân | Khôn (Tây) | Tốn (Đông) |
| 1981 | Tân Dậu | Khảm (Đông) | Cấn (Tây) |
| 1982 | Nhâm Tuất | Ly (Đông) | Càn (Tây) |
| 1983 | Quý Hợi | Cấn (Tây) | Đoài (Tây) |
| 1984 | Giáp Tý | Đoài (Tây) | Cấn (Tây) |
| 1985 | Ất Sửu | Càn (Tây) | Ly (Đông) |
| 1986 | Bính Dần | Khôn (Tây) | Khảm (Đông) |
| 1987 | Đinh Mão | Tốn (Đông) | Khôn (Tây) |
| 1988 | Mậu Thìn | Chấn (Đông) | Chấn (Đông) |
| 1989 | Kỷ Tỵ | Khôn (Tây) | Tốn (Đông) |
| 1990 | Canh Ngọ | Khảm (Đông) | Cấn (Tây) |
| 1991 | Tân Mùi | Ly (Đông) | Càn (Tây) |
| 1992 | Nhâm Thân | Cấn (Tây) | Đoài (Tây) |
| 1993 | Quý Dậu | Đoài (Tây) | Cấn (Tây) |
| 1994 | Giáp Tuất | Càn (Tây) | Ly (Đông) |
| 1995 | Ất Hợi | Khôn (Tây) | Khảm (Đông) |
| 1996 | Bính Tý | Tốn (Đông) | Khôn (Tây) |
| 1997 | Đinh Sửu | Chấn (Đông) | Chấn (Đông) |
| 1998 | Mậu Dần | Khôn (Tây) | Tốn (Đông) |
| 1999 | Kỷ Mão | Khảm (Đông) | Cấn (Tây) |
| 2000 | Canh Thìn | Ly (Đông) | Càn (Tây) |
| 2001 | Tân Tỵ | Cấn (Tây) | Đoài (Tây) |
| 2002 | Nhâm Ngọ | Đoài (Tây) | Cấn (Tây) |
| 2003 | Quý Mùi | Càn (Tây) | Ly (Đông) |
| 2004 | Giáp Thân | Khôn (Tây) | Khảm (Đông) |
| 2005 | Ất Dậu | Tốn (Đông) | Khôn (Tây) |
| 2006 | Bính Tuất | Chấn (Đông) | Chấn (Đông) |
| 2007 | Đinh Hợi | Khôn (Tây) | Tốn (Đông) |
| 2008 | Mậu Tý | Khảm (Đông) | Cấn (Tây) |
| 2009 | Kỷ Sửu | Ly (Đông) | Càn (Tây) |
| 2010 | Canh Dần | Cấn (Tây) | Đoài (Tây) |
Bảng lặp lại theo chu kỳ 9 năm (1970, 1979, 1988, 1997, 2006 đều ra Chấn cho cả nam lẫn nữ). Không thấy năm của bạn? Dùng công cụ xem phong thủy Bát Trạch: nhập ngày sinh dương lịch và giới tính, trang tự đổi sang năm âm lịch và liệt kê đủ tám hướng.
Dùng cung phi thế nào cho tỉnh táo
Cung phi là một công cụ sắp xếp, không phải bản án. Vài điều nên nhớ:
- Bát Trạch chỉ là một trường phái. Nó không xét địa hình bên ngoài (Loan Đầu) hay vận khí của căn nhà theo thời gian (Huyền Không). Bài Loan Đầu và Lý Khí so sánh các trường phái này.
- Không có bằng chứng khoa học rằng cung phi quyết định sức khỏe hay tài vận. Những gì phong thủy nói trùng với kiến trúc (nắng, gió, ánh sáng) thì có cơ sở; phần "hướng Tuyệt Mệnh gây bệnh" thì không. Đọc thêm phong thủy có khoa học không.
- Ưu tiên những thứ dễ đổi. Hướng giường, hướng bàn làm việc xoay được trong một buổi chiều. Hướng nhà thì không. Bài chọn hướng nhà hợp tuổi bàn cụ thể chuyện nhà "lệch hướng" thì làm gì.
- Đừng mua vật phẩm đắt tiền để "hóa giải". Không có nguồn kinh điển nào của Bát Trạch dạy rằng phải mua tượng, cầu thủy tinh giá chục triệu mới ở được nhà hướng xấu.
Câu hỏi thường gặp
Cung phi và cung mệnh có phải là một không?
Trong phong thủy Bát Trạch, người ta dùng lẫn lộn "cung phi", "cung mệnh", "quái mệnh" để chỉ cùng một thứ: quẻ Bát Quái tính từ năm sinh và giới tính. Nhưng cần phân biệt với "cung Mệnh" trong Tử Vi (một trong 12 cung của lá số) và với mệnh nạp âm (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ theo năm sinh). Ba khái niệm này khác nhau hoàn toàn.
Vì sao nam và nữ cùng năm sinh lại khác cung phi?
Vì Bát Trạch cho nam đếm Cửu Cung theo chiều nghịch, nữ đếm theo chiều thuận ("nam nghịch, nữ thuận"), khởi từ hai điểm khác nhau. Một số năm hai chiều đếm gặp nhau ở cùng một cung, ví dụ 1988 và 1997 cả nam lẫn nữ đều là Chấn.
Sinh tháng 1 dương lịch thì tính cung phi theo năm nào?
Nếu sinh trước Tết âm lịch của năm đó thì tính theo năm âm lịch trước. Ví dụ sinh 20/1/1990 (trước Tết Canh Ngọ 27/1/1990) thì tính theo năm 1989. Trang Huyền làm theo Tết; một số trường phái lấy mốc Lập Xuân (khoảng 4/2) nên có thể ra kết quả khác với người sinh giữa hai mốc này.
Cung phi số 5 là cung gì?
Số 5 là trung cung, không có quẻ. Theo quy ước phổ biến, nam ra số 5 thì lấy cung Khôn (Tây Nam), nữ ra số 5 thì lấy cung Cấn (Đông Bắc). Cả hai đều thuộc Tây tứ mệnh.
Vợ chồng khác nhóm Đông tứ mệnh, Tây tứ mệnh thì sao?
Rất thường gặp. Cách làm truyền thống là lấy hướng nhà theo người trụ cột, rồi bố trí giường, bàn làm việc riêng theo hướng tốt của từng người. Khác nhóm không có nghĩa là "khắc", và không phải lý do để lo lắng về hôn nhân.
Cung phi có thay đổi theo thời gian không?
Không. Cung phi gắn cố định với năm sinh và giới tính, cả đời không đổi. Thứ thay đổi theo thời gian là vận khí của căn nhà, nhưng đó là phạm vi của trường phái Huyền Không Phi Tinh chứ không phải Bát Trạch.