Thư viện Polaris☯ Hỏi Thầy Huyền

Thiên Can Địa Chi là gì? 10 can, 12 chi, 60 hoa giáp và nạp âm

Thiên can địa chi là gì? Bảng ngũ hành âm dương của 10 can 12 chi, cách ghép 60 hoa giáp, nạp âm, tam hợp, lục hợp, lục xung, tam hình và 12 giờ theo địa chi.

11 phút đọc

Mười hai tượng con giáp bằng ngọc và đồng xếp thành vòng tròn trên mặt bàn sơn mài, giữa là đĩa đồng trơn, nến thắp quanh

Thiên can địa chi (gọi tắt là can chi) là hệ đếm thời gian cổ của Á Đông, gồm 10 thiên can và 12 địa chi ghép đôi với nhau thành vòng 60, gọi là lục thập hoa giáp. Mỗi năm, tháng, ngày, giờ đều mang một cặp can chi, như năm 2026 là Bính Ngọ. Vì mỗi can và chi đều có ngũ hành và âm dương riêng, can chi trở thành "bảng chữ cái" chung của Tử Vi, Bát Tự, phong thủy và chọn ngày.

Bài này cho bạn bảng tra đầy đủ: ngũ hành âm dương của từng can chi, cách ghép 60 hoa giáp, nạp âm, các quan hệ hợp xung hình hại, và 12 giờ trong ngày.

10 thiên can: ngũ hành và âm dương

Mười can theo thứ tự là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Cứ hai can liền nhau thuộc cùng một hành, can đứng trước là dương, can sau là âm.

CanNgũ hànhÂm dươngHướngHình ảnh thường dùng
GiápMộcDươngĐôngCây lớn
ẤtMộcÂmĐôngCỏ hoa, dây leo
BínhHỏaDươngNamMặt trời
ĐinhHỏaÂmNamNgọn đèn, ánh nến
MậuThổDươngTrung tâmNúi, đất dày
KỷThổÂmTrung tâmĐất ruộng vườn
CanhKimDươngTâySắt thép, đao kiếm
TânKimÂmTâyTrang sức, kim loại quý
NhâmThủyDươngBắcSông biển
QuýThủyÂmBắcMưa móc, sương

Những hình ảnh ở cột cuối được dùng rộng rãi trong sách Bát Tự (Trích Thiên Tủy có hẳn một phần luận về mười can) để diễn tả tính chất, không phải định nghĩa cứng.

Mẹo nhận can của năm dương lịch: nhìn chữ số cuối. Số 4 là Giáp, 5 Ất, 6 Bính, 7 Đinh, 8 Mậu, 9 Kỷ, 0 Canh, 1 Tân, 2 Nhâm, 3 Quý. Ví dụ năm 2026 tận cùng 6 nên can Bính; năm 1990 tận cùng 0 nên can Canh. (Lưu ý: năm can chi bắt đầu từ Tết hoặc Lập Xuân chứ không phải 1/1, xem bài sinh gần Tết thì tuổi gì.)

12 địa chi: ngũ hành, âm dương, con giáp, tháng

Mười hai chi là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Mỗi chi ứng với một con giáp, một tháng âm lịch, một khoảng giờ và một phương vị.

ChiCon giápNgũ hànhÂm dươngTháng âmGiờ
TýChuộtThủyDương1123h–1h
SửuTrâuThổÂm121h–3h
DầnHổMộcDương1 (Giêng)3h–5h
MãoMèoMộcÂm25h–7h
ThìnRồngThổDương37h–9h
TỵRắnHỏaÂm49h–11h
NgọNgựaHỏaDương511h–13h
MùiDêThổÂm613h–15h
ThânKhỉKimDương715h–17h
DậuGàKimÂm817h–19h
TuấtChóThổDương919h–21h
HợiLợnThủyÂm1021h–23h

Vài điều đáng biết:

  • Mão là Mèo ở Việt Nam, là Thỏ ở Trung Quốc. Đây là khác biệt văn hóa, không ảnh hưởng gì đến cách tính.
  • Bốn chi Thổ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) nằm ở tháng cuối mỗi mùa, đúng với quan niệm Thổ vượng ở tứ quý mà bài âm dương ngũ hành đã nói.
  • Âm dương của Tý, Ngọ, Tỵ, Hợi có tranh luận. Theo thứ tự thì Tý, Ngọ dương; Tỵ, Hợi âm. Một số sách Bát Tự nói bốn chi này "thể dụng khác nhau": Tý tàng Quý (âm) nên dùng như âm, Tỵ tàng Bính (dương) nên dùng như dương, Hợi tàng Nhâm, Ngọ tàng Đinh. Trang này theo thứ tự đơn giản: chi số chẵn (Tý, Dần, Thìn...) là dương.
  • Mẹo tìm chi của năm: lấy năm dương lịch chia 12, số dư 4 là Tý, 5 Sửu, 6 Dần... tăng dần, dư 0 là Thân. Ví dụ 2026 chia 12 dư 10, ứng với Ngọ.

Tàng can: thiên can ẩn trong địa chi

Mỗi địa chi chứa một đến ba thiên can ẩn bên trong, gọi là tàng can (nhân nguyên). Can đầu là bản khí, mạnh nhất; các can sau là trung khí, dư khí. Đây là phần cực kỳ quan trọng trong Bát Tự, vì nó cho biết một chi thực sự mang những hành gì.

ChiTàng canChiTàng can
TýQuýNgọĐinh, Kỷ
SửuKỷ, Quý, TânMùiKỷ, Đinh, Ất
DầnGiáp, Bính, MậuThânCanh, Nhâm, Mậu
MãoẤtDậuTân
ThìnMậu, Ất, QuýTuấtMậu, Tân, Đinh
TỵBính, Mậu, CanhHợiNhâm, Giáp

Bảng trên là bảng chuẩn, khớp với cách trang lá số Bát Tự tính. Một vài sách cổ ghi dị bản cho một số chi, nhưng bảng này là bảng thông dụng nhất hiện nay.

Lục thập hoa giáp: vì sao 60 chứ không phải 120

Ghép can với chi theo cặp: Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão... can đi hết 10 thì quay lại Giáp, chi đi hết 12 thì quay lại Tý. Sau 60 bước (bội số chung nhỏ nhất của 10 và 12), ta trở về Giáp Tý. Đó là lục thập hoa giáp, vòng 60.

Vì can và chi tiến song song, can dương luôn đi với chi dương, can âm đi với chi âm. Do đó không bao giờ có "Giáp Sửu" hay "Ất Tý". Mười nhân mười hai bằng 120, nhưng chỉ một nửa số cặp đó tồn tại.

Vòng 60 được dùng cho cả bốn đơn vị thời gian:

  • Năm: 60 năm một vòng. Năm 1984 là Giáp Tý, 2044 lại là Giáp Tý.
  • Tháng: chi tháng cố định (tháng Giêng luôn là Dần), còn can tháng suy từ can năm theo quy tắc "ngũ hổ độn". Năm Giáp hoặc Kỷ thì tháng Giêng là Bính Dần; Ất hoặc Canh là Mậu Dần; Bính hoặc Tân là Canh Dần; Đinh hoặc Nhâm là Nhâm Dần; Mậu hoặc Quý là Giáp Dần.
  • Ngày: chạy liên tục 60 ngày một vòng, không phụ thuộc tháng hay năm. Trang này tính ngày can chi từ số ngày Julius, lấy mốc 01/01/2000 là ngày Mậu Ngọ. Hôm nay, 05/10/2026, là ngày Nhâm Tý.
  • Giờ: chi giờ cố định theo bảng trên, can giờ suy từ can ngày theo "ngũ thử độn". Ngày Giáp hoặc Kỷ thì giờ Tý là Giáp Tý; Ất hoặc Canh là Bính Tý; Bính hoặc Tân là Mậu Tý; Đinh hoặc Nhâm là Canh Tý; Mậu hoặc Quý là Nhâm Tý.

Bạn có thể tra can chi ngày, tháng, năm của bất kỳ ngày nào bằng công cụ đổi lịch âm dương.

Nạp âm: "mệnh" theo năm sinh

Mỗi hai cặp can chi liền nhau trong vòng 60 được gán chung một nạp âm, tức một hành kèm hình tượng. Ba mươi nạp âm này là gốc của câu hỏi quen thuộc "tuổi này mệnh gì". Nguồn gốc nạp âm gắn với âm luật cổ (ngũ âm, thập nhị luật), cách suy chi tiết thì mỗi sách giải thích một kiểu, nên ở đây chỉ đưa bảng.

Cặp can chiNạp âm
Giáp Tý, Ất SửuHải Trung Kim
Bính Dần, Đinh MãoLô Trung Hỏa
Mậu Thìn, Kỷ TỵĐại Lâm Mộc
Canh Ngọ, Tân MùiLộ Bàng Thổ
Nhâm Thân, Quý DậuKiếm Phong Kim
Giáp Tuất, Ất HợiSơn Đầu Hỏa
Bính Tý, Đinh SửuGiản Hạ Thủy
Mậu Dần, Kỷ MãoThành Đầu Thổ
Canh Thìn, Tân TỵBạch Lạp Kim
Nhâm Ngọ, Quý MùiDương Liễu Mộc
Giáp Thân, Ất DậuTuyền Trung Thủy
Bính Tuất, Đinh HợiỐc Thượng Thổ
Mậu Tý, Kỷ SửuTích Lịch Hỏa
Canh Dần, Tân MãoTùng Bách Mộc
Nhâm Thìn, Quý TỵTrường Lưu Thủy
Giáp Ngọ, Ất MùiSa Trung Kim
Bính Thân, Đinh DậuSơn Hạ Hỏa
Mậu Tuất, Kỷ HợiBình Địa Mộc
Canh Tý, Tân SửuBích Thượng Thổ
Nhâm Dần, Quý MãoKim Bạch Kim
Giáp Thìn, Ất TỵPhú Đăng Hỏa
Bính Ngọ, Đinh MùiThiên Hà Thủy
Mậu Thân, Kỷ DậuĐại Trạch Thổ
Canh Tuất, Tân HợiThoa Xuyến Kim
Nhâm Tý, Quý SửuTang Đố Mộc
Giáp Dần, Ất MãoĐại Khê Thủy
Bính Thìn, Đinh TỵSa Trung Thổ
Mậu Ngọ, Kỷ MùiThiên Thượng Hỏa
Canh Thân, Tân DậuThạch Lựu Mộc
Nhâm Tuất, Quý HợiĐại Hải Thủy

Nạp âm có thể khác hẳn ngũ hành của chính can chi. Năm Giáp Thìn 2024: can Giáp hành Mộc, chi Thìn hành Thổ, nhưng nạp âm Phú Đăng Hỏa. Tử Vi dùng nạp âm của cung Mệnh để định "ngũ hành cục" (Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục, Hỏa lục cục). Bát Tự theo lối Tử Bình thì chủ yếu xét ngũ hành của can chi và tàng can, ít dùng nạp âm (xem Bát Tự Tứ Trụ là gì). Cách an sao từ cục được trình bày ở bài Tử Vi Đẩu Số là gì.

Hợp, xung, hình, hại giữa các địa chi

Các chi không đứng riêng lẻ mà tương tác với nhau. Đây là những quan hệ hay gặp nhất khi xem tuổi, chọn ngày và luận Bát Tự.

Tam hợp (ba chi cách nhau 4 vị trí, hợp thành một cục):

Tam hợpHóa thành cục
Thân, Tý, ThìnThủy
Hợi, Mão, MùiMộc
Dần, Ngọ, TuấtHỏa
Tỵ, Dậu, SửuKim

Tam hội (ba chi cùng một mùa, một phương): Dần Mão Thìn hội Mộc phương Đông; Tỵ Ngọ Mùi hội Hỏa phương Nam; Thân Dậu Tuất hội Kim phương Tây; Hợi Tý Sửu hội Thủy phương Bắc.

Lục hợp (sáu cặp): Tý với Sửu hợp Thổ, Dần với Hợi hợp Mộc, Mão với Tuất hợp Hỏa, Thìn với Dậu hợp Kim, Tỵ với Thân hợp Thủy, Ngọ với Mùi hợp (đa số sách nói hợp Thổ, có sách nói Hỏa).

Lục xung (hai chi đối diện trên vòng, cách nhau 6): Tý xung Ngọ, Sửu xung Mùi, Dần xung Thân, Mão xung Dậu, Thìn xung Tuất, Tỵ xung Hợi. Đây là quan hệ người ta hay nói "tuổi xung". Nó xuất phát từ việc hai chi đối nhau cả về phương vị lẫn mùa.

Tam hình:

  • Dần, Tỵ, Thân: gọi là "vô ân chi hình" (hình vô ơn).
  • Sửu, Tuất, Mùi: "trì thế chi hình" (hình cậy thế).
  • Tý và Mão: "vô lễ chi hình" (hình vô lễ).
  • Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi: tự hình (gặp chính nó).

Lục hại: Tý với Mùi, Sửu với Ngọ, Dần với Tỵ, Mão với Thìn, Thân với Hợi, Dậu với Tuất.

Thiên can cũng có hợp và xung riêng. Ngũ hợp: Giáp hợp Kỷ (hóa Thổ), Ất hợp Canh (hóa Kim), Bính hợp Tân (hóa Thủy), Đinh hợp Nhâm (hóa Mộc), Mậu hợp Quý (hóa Hỏa). Can xung: Giáp xung Canh, Ất xung Tân, Bính xung Nhâm, Đinh xung Quý.

Một lời nhắc: các quan hệ này là công cụ phân tích, không phải phán quyết. Hai người "tuổi xung" vẫn sống với nhau bình thường; trong Bát Tự, xung đôi khi còn có lợi vì phá được một thế bế tắc. Muốn xem hai người hợp nhau thế nào, so cả lá số sẽ có nhiều thông tin hơn hẳn chỉ nhìn chi năm, như cách trang so lá số làm.

12 giờ theo địa chi và chuyện giờ Tý

Một ngày chia 12 giờ, mỗi giờ (canh giờ) dài hai tiếng đồng hồ hiện đại, bắt đầu từ giờ Tý lúc 23h. Bảng ở phần địa chi đã cho đủ khung giờ.

Rắc rối nằm ở giờ Tý, vì nó vắt qua nửa đêm. Có hai quan điểm:

  • Đổi ngày lúc 23h: cả giờ Tý (23h–1h) thuộc ngày mới. Đây là cách truyền thống và cũng là cách trang này dùng cho cả Tử Vi lẫn Bát Tự: ai sinh từ 23h trở đi được tính sang ngày hôm sau.
  • Đổi ngày lúc 0h: chia giờ Tý làm hai, "Tý sớm" (0h–1h) thuộc ngày mới, "Tý muộn" hay "dạ Tý" (23h–24h) vẫn thuộc ngày cũ. Một số thầy Bát Tự hiện đại theo cách này.

Với người sinh khoảng 23h đến nửa đêm, hai cách cho ra trụ ngày khác nhau, và có khi cả ngày âm lịch khác nhau. Nếu bạn rơi vào khung này, nên lập cả hai phương án để so.

Ngoài ra, giờ đồng hồ là giờ múi (Việt Nam dùng UTC+7), không trùng hoàn toàn với giờ mặt trời tại nơi sinh. Một số trường phái điều chỉnh về "giờ mặt trời thật". Với người sinh sát ranh giới hai canh giờ, chênh lệch vài chục phút này có thể làm đổi giờ sinh.

Câu hỏi thường gặp

10 thiên can và 12 địa chi gồm những gì?

Thiên can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Địa chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Ghép lần lượt với nhau được vòng 60 năm gọi là lục thập hoa giáp.

Cách tính can chi của năm sinh nhanh nhất?

Can theo chữ số cuối của năm: 4 Giáp, 5 Ất, 6 Bính, 7 Đinh, 8 Mậu, 9 Kỷ, 0 Canh, 1 Tân, 2 Nhâm, 3 Quý. Chi theo số dư khi chia năm cho 12: dư 4 là Tý, rồi tăng dần. Nhớ rằng nếu sinh tháng 1 hoặc đầu tháng 2 dương lịch, năm can chi có thể vẫn là năm trước.

Vì sao không có năm Giáp Sửu?

Vì can và chi tiến cùng lúc, can dương luôn đi với chi dương và can âm đi với chi âm. Giáp là can dương còn Sửu là chi âm nên không bao giờ gặp nhau. Vì thế chỉ có 60 cặp chứ không phải 120.

Tam hợp và lục hợp khác nhau thế nào?

Tam hợp là ba chi cách nhau bốn vị trí, như Thân Tý Thìn, hợp thành một cục ngũ hành mạnh. Lục hợp là sáu cặp hai chi, như Tý với Sửu. Trong Bát Tự, tam hợp thường được coi là lực mạnh hơn lục hợp.

Sinh 23h30 thì tính ngày hôm đó hay ngày hôm sau?

Theo cách truyền thống, và theo cách trang này tính, giờ Tý bắt đầu lúc 23h nên sinh 23h30 thuộc ngày hôm sau. Một số trường phái lại chỉ đổi ngày lúc 0h. Nếu sinh trong khung 23h đến 24h, bạn nên xem cả hai phương án.

Nạp âm có quan trọng trong Bát Tự không?

Bát Tự theo lối Tử Bình chủ yếu dùng ngũ hành của can, chi và tàng can, ít dựa vào nạp âm. Nạp âm quan trọng hơn trong Tử Vi (để định ngũ hành cục) và trong xem tuổi dân gian.

☯ Hỏi Thầy Huyền về bài này

Nội dung mang tính tham khảo và văn hoá; không phải lời khuyên để làm theo.