Năm Bính Ngọ – Đinh Mùi lặp lại 60 năm một lần. Từ năm 255 TCN, cặp đầu tiên mà sách Tống ghi, đến cặp 2026–2027, đã có 39 cặp như vậy. Có cặp gắn với biến cố lớn thật: loạn Tĩnh Khang 1126–1127, Cách mạng Văn hóa 1966. Nhưng cũng nhiều cặp trôi qua với chuyện triều chính thường ngày, có cặp còn là năm thắng trận của người Việt. Đặt cạnh các năm khác, cặp năm này không nhiều tai họa hơn.
Bài này là phần "hồ sơ lịch sử" đi kèm bài Xích Mã Hồng Dương là gì. Ở đây chúng tôi bày từng cặp năm ra bàn: những gì sách xưa ghi, những gì đã xảy ra từ đời Tống đến nay, và những tai họa lớn nhất lịch sử thực ra rơi vào năm nào.
Năm Bính Ngọ là những năm nào?
Năm Bính Ngọ là năm có thiên can Bính (Hỏa dương) và địa chi Ngọ (Ngựa); năm Đinh Mùi đi ngay sau, can Đinh (Hỏa âm), chi Mùi (Dê). Muốn biết vì sao 60 năm mới gặp lại, xem bài thiên can địa chi. Các năm sau Công nguyên, tính bằng hàm can chi của trang:
| Thế kỷ | Các cặp Bính Ngọ – Đinh Mùi |
|---|---|
| 1–5 | 46–47, 106–107, 166–167, 226–227, 286–287, 346–347, 406–407, 466–467 |
| 6–10 | 526–527, 586–587, 646–647, 706–707, 766–767, 826–827, 886–887, 946–947 |
| 11–15 | 1006–1007, 1066–1067, 1126–1127, 1186–1187, 1246–1247, 1306–1307, 1366–1367, 1426–1427, 1486–1487 |
| 16–19 | 1546–1547, 1606–1607, 1666–1667, 1726–1727, 1786–1787, 1846–1847 |
| 20–21 | 1906–1907, 1966–1967, 2026–2027 |
Trước Công nguyên có thêm năm cặp: 255–254, 195–194, 135–134, 75–74 và 15–14 TCN. Một mẹo nhớ: năm dương lịch tận cùng bằng 6 là can Bính, nên năm Bính Ngọ luôn có dạng ...6, cách nhau 60.
Lưu ý: năm can chi tính theo âm lịch, nên đầu năm dương lịch (tháng 1, đầu tháng 2) vẫn thuộc năm cũ. Ví dụ năm Bính Ngọ 1966 bắt đầu từ Tết 21/1/1966, năm Bính Ngọ 2026 bắt đầu từ Tết 17/2/2026. Tra ngày cụ thể ở lịch âm.
21 cặp năm trong sách "Bính Đinh quy giám"
Năm 1246, Sài Vọng dâng vua Tống sách Bính Đinh quy giám, kể biến cố của 21 cặp năm Bính Ngọ – Đinh Mùi từ đời Tần đến Ngũ Đại. Sách gốc khó tìm, nhưng học giả Triều Tiên Lý Đức Mậu (1741–1793) đã chép tóm tắt từng cặp trong Thanh Trang Quán toàn thư, quyển 58. Bảng dưới dịch gọn bản tóm tắt ấy (năm đã đối chiếu lại can chi):
| Cặp năm | Sài Vọng ghi gì |
|---|---|
| 255–254 TCN | Tần lấy bảo khí nhà Chu; nước Ngụy quy phục Tần |
| 195–194 TCN | Hán Cao Tổ mất sau trận đánh Anh Bố; Lã hậu giết Thích phu nhân |
| 135–134 TCN | Thái hoàng thái hậu họ Đậu mất; nhà Hán bắt đầu đánh Hung Nô |
| 75–74 TCN | Đánh Ô Hoàn; Chiêu Đế mất không con, Xương Ấp vương lên rồi bị phế |
| 15–14 TCN | Vương Thương làm Đại tư mã, vua mải yến tiệc; Mai Phúc dâng thư can |
| 46–47 | Hung Nô cầu hòa, bãi đồn biên; một tướng tử trận khi đánh Vũ Lăng |
| 106–107 | Thương Đế mất; giặc cướp, mưa lụt, thái úy bị bãi chức |
| 166–167 | Họa "đảng cố": giới sĩ phu bị bắt, cấm làm quan |
| 226–227 | Ngụy Văn Đế mất; Gia Cát Lượng đóng quân Hán Trung |
| 286–287 | Tiên Ti cướp Liêu Đông; nền điện Thái miếu sụt |
| 346–347 | Hoàn Ôn đánh Thục; Hoàn Ôn chuyên quyền |
| 406–407 | Phong tước cho Lưu Dụ; Hách Liên Bột Bột xưng Đại Hạ thiên vương |
| 466–467 | Tấn An vương xưng đế ở Tầm Dương; nhà Tống (Nam triều) mất đất Hoài Bắc |
| 526–527 | Lương đánh Ngụy; Lương Vũ Đế xả thân vào chùa Đồng Thái |
| 586–587 | Trần Hậu Chủ dùng Giang Tổng; nhà Tùy lăm le đánh Trần |
| 646–647 | Đường Thái Tông đánh Cao Câu Ly |
| 706–707 | Vũ Tam Tư chuyên quyền; thái tử Trọng Tuấn khởi binh giết Vũ Tam Tư |
| 766–767 | Nguyên Tái chuyên quyền; triều đình sùng Phật |
| 826–827 | Hoạn quan giết Đường Kính Tông |
| 886–887 | Điền Lệnh Tư ép vua bỏ chạy; Trương Toàn Nghĩa chiêu tập dân lưu tán |
| 946–947 | Hậu Tấn hàng Khiết Đan; vua Tấn bị bắt lên phương bắc |
Đọc cả bảng sẽ thấy một điều thú vị: Sài Vọng tìm được "tai họa" cho đủ cả 21 cặp năm, không bỏ cặp nào. Khoảng một phần ba là biến lớn thật (nhà Chu mất bảo khí, vua bị giết, mất nước vào tay Khiết Đan). Phần còn lại là chuyện triều chính thường thấy ở bất kỳ năm nào: một vị quan được dùng, một vua mất già, vua sùng Phật. Có cặp như 346–347, Hoàn Ôn đánh Thục thực ra là một chiến thắng của nhà Tấn; cặp 886–887 có cả việc chiêu tập dân về làm ăn.
Lý Đức Mậu chép thêm vài cặp đời Tống của Sài Vọng: 1006–1007 (vua dùng Vương Khâm Nhược), 1066–1067 (thiên tai, biên cương bất an, vua Anh Tông mất), 1126–1127 (Tĩnh Khang), 1246–1247 (lụt hạn liên tiếp). Đến các cặp đời Thanh thì ông để trống, ghi "cần tra mà điền vào". Tức là người ta lập danh sách trước, rồi đi tìm biến cố cho đủ.
Từ Tống đến Thanh: những cặp năm hay được nhắc
1126–1127: loạn Tĩnh Khang. Đây là ví dụ mạnh nhất của thuyết. Quân Kim vây Biện Kinh năm Bính Ngọ 1126, hạ thành năm Đinh Mùi 1127, bắt hai vua Huy Tông và Khâm Tông lên phía bắc, Bắc Tống mất. Hồng Mại, Trần Lượng và Sài Vọng đều sống sau biến cố này, nên dễ hiểu vì sao họ nhìn mọi cặp năm khác qua lăng kính của nó.
1186–1187. Tháng 7/1187 Saladin thắng trận Hattin, tháng 10 lấy lại Jerusalem từ tay quân Thập tự. Ở Trung Hoa, Tống Cao Tông mất năm 1187, và Hồng Mại tính đó là "tai họa".
1426–1427: Lam Sơn. Phần nối thêm đời Minh của Lý Đức Mậu ghi năm Bính Ngọ 1426 thượng thư Trần Hiệp tử trận khi đánh Lê Lợi, năm Đinh Mùi 1427 An Viễn hầu Liễu Thăng tử trận. Đó là trận Tốt Động – Chúc Động và trận Chi Lăng – Xương Giang, dẫn tới hội thề Đông Quan và việc quân Minh rút về, Đại Việt giành lại độc lập. Cùng một cặp năm, sử Trung Hoa chép là "kiếp", sử Việt chép là đại thắng.
1666–1667. Đại hỏa hoạn London tháng 9/1666 thiêu rụi phần lớn thành phố cổ. Ở Trung Hoa, Vương Sĩ Trinh ghi các vụ án quan lớn đời Khang Hy, sao chổi năm 1667 và việc phụ chính đại thần Tô Khắc Tát Cáp bị xử tử (Trì Bắc ngẫu đàm).
1786–1787. Nguyễn Huệ ra Bắc năm 1786, lật đổ họ Trịnh. Cùng năm, động đất Khang Định ở Tứ Xuyên làm sạt núi chặn sông Đại Độ, vỡ đập gây lụt lớn. Năm 1787, Hiến pháp Hoa Kỳ được ký.
Còn các cặp 1306–1307, 1366–1367, 1486–1487, 1546–1547, 1606–1607, 1726–1727 thì sách nối thêm cũng chỉ ghi được những chuyện như một trận động đất địa phương, một cuộc cướp phá biên giới, một vụ cháy cung, vua mất, hoặc để trống.
Ba cặp năm gần nhất: 1846, 1906, 1966
Ba cặp năm này đủ gần để có số liệu tốt. Chúng tôi ghi cả chuyện xấu lẫn chuyện tốt mà ai cũng tra được:
| Cặp năm | Biến cố, tai họa | Chuyện khác cùng thời |
|---|---|---|
| 1846–1847 | Chiến tranh Mỹ – Mexico (1846); nạn đói Ireland lên đỉnh năm 1847; Pháp nã pháo Đà Nẵng (4/1847); vua Thiệu Trị mất (1847) | Phát hiện Hải Vương tinh (1846) |
| 1906–1907 | Động đất San Francisco (4/1906); nạn đói miền trung Trung Quốc 1906–1907; khủng hoảng tài chính Mỹ 1907; vua Thành Thái bị phế (1907) | Đông Kinh Nghĩa Thục mở trường (1907) |
| 1966–1967 | Cách mạng Văn hóa bắt đầu (5/1966); động đất Hình Đài (3/1966); chiến tranh Sáu ngày (6/1967); nội chiến Nigeria (1967); chiến tranh ở Việt Nam leo thang | ASEAN thành lập (8/1967); ca ghép tim người đầu tiên (12/1967) |
Nhìn bảng, người tin thuyết sẽ thấy "đúng quá". Nhưng hãy làm phép thử ngược: chọn bất kỳ cặp năm nào khác, ví dụ 1914–1915 (Giáp Dần – Ất Mão: Thế chiến thứ nhất), 1944–1945 (Giáp Thân – Ất Dậu: Thế chiến thứ hai, nạn đói ở Việt Nam), 1918–1919 (Mậu Ngọ – Kỷ Mùi: cúm Tây Ban Nha), bạn sẽ được một cột "biến cố" còn dày hơn. Thế kỷ 20 hầu như năm nào cũng có chiến tranh hoặc thiên tai lớn ở đâu đó.
Cặp 2026–2027 đang diễn ra. Chúng tôi không chấm điểm một năm chưa hết, và cũng không nghĩ nên làm vậy.
Những tai họa lớn nhất lịch sử rơi vào năm nào?
Nếu Bính Ngọ – Đinh Mùi là năm đại nạn, ta có thể chờ những thảm họa lớn nhất dồn vào đó. Chúng tôi lấy 5 vụ đứng đầu của ba danh sách Wikipedia tiếng Anh (chiến tranh, đại dịch, thiên tai; bản ngày 6/10/2026), không chọn thêm bớt, kèm can chi năm khởi đầu:
| Danh sách | Tai họa | Năm khởi | Can chi |
|---|---|---|---|
| Chiến tranh | Thế chiến thứ hai | 1939 | Kỷ Mão |
| Chiến tranh | Loạn Thái Bình Thiên Quốc | 1850 | Canh Tuất |
| Chiến tranh | Mông Cổ chinh phạt | 1206 | Bính Dần |
| Chiến tranh | Thời Tam Quốc | 184 | Giáp Tý |
| Chiến tranh | Minh – Thanh chuyển giao | 1618 | Mậu Ngọ |
| Đại dịch | Cúm 1918 | 1918 | Mậu Ngọ |
| Đại dịch | Dịch hạch Justinian | 541 | Tân Dậu |
| Đại dịch | HIV/AIDS | 1981 | Tân Dậu |
| Đại dịch | Cái Chết Đen | 1346 | Bính Tuất |
| Đại dịch | COVID-19 | 2019 | Kỷ Hợi |
| Thiên tai | Lụt Trung Quốc 1931 | 1931 | Tân Mùi |
| Thiên tai | Lụt Hoàng Hà 1887 | 1887 | Đinh Hợi |
| Thiên tai | Bão Bhola | 1970 | Canh Tuất |
| Thiên tai | Động đất Haiti | 2010 | Canh Dần |
| Thiên tai | Động đất Đường Sơn | 1976 | Bính Thìn |
Trong 15 vụ, không vụ nào rơi vào năm Bính Ngọ hay Đinh Mùi (kỳ vọng nếu chia đều là 0,5 vụ). Vụ Bính Ngọ gần nhóm đầu nhất là động đất Antioch năm 526, đứng thứ sáu trong danh sách thiên tai. Có 4 vụ rơi vào năm can Bính hoặc Đinh (Bính Dần, Bính Tuất, Đinh Hợi, Bính Thìn), hơi cao hơn mức kỳ vọng 3 vụ, nhưng 15 vụ là quá ít để nói gì; trên toàn bộ hơn một nghìn sự kiện, tỉ lệ năm Bính, Đinh là 19,0%, đúng mức bình thường.
So với các năm khác: con số
Bài Xích Mã Hồng Dương là gì có phép kiểm đầy đủ. Tóm tắt: trong 1.029 chiến tranh, nạn đói, dịch bệnh và thiên tai lớn từ bốn danh sách Wikipedia, chỉ 21 sự kiện (2,0%) khởi vào năm Bính Ngọ hoặc Đinh Mùi, trong khi nếu chia đều sẽ là khoảng 34 (3,3%). Xếp 30 cặp năm theo số sự kiện, cặp Bính Ngọ – Đinh Mùi đứng cuối. Năm can Bính hoặc Đinh nói chung chiếm 19,0%, sát mức 20% kỳ vọng.
Con số thấp ấy không có nghĩa là năm may; nó chủ yếu phản ánh giới hạn của danh sách. Điều rút ra được chỉ là: không thấy tai họa dồn về cặp năm này. Cách làm phép kiểm như vậy được giải thích ở trang thuật ngữ Kiểm định hoán vị.
Đọc lịch sử theo can chi thế nào cho đúng?
Can chi là cách đặt tên năm, rất tiện để nhớ và tra sử. Người Việt vẫn gọi "nạn đói Ất Dậu", "Tết Mậu Thân", "chiến thắng Bạch Đằng năm Mậu Tý" (1288). Cái tên dính vào sự kiện, rồi sự kiện làm ta có cảm giác cái tên mang vận số. Mấy điều nên nhớ:
- Một cái tên, nhiều năm. Mỗi can chi quay lại 60 năm một lần. Trong 39 cặp Bính Ngọ – Đinh Mùi, ta chỉ nhớ vài cặp có biến lớn.
- Tai họa ở đâu, của ai. Thuyết sinh ra để nói về "Trung Quốc", và đứng về phía triều đình. Năm 1426–1427 là ví dụ rõ nhất.
- Ghi trước, kiểm sau. Danh sách của Sài Vọng được lập sau khi biết chuyện. Muốn kiểm một lời dự báo, phải ghi nó ra trước, cụ thể, rồi mới đối chiếu.
Nếu bạn muốn dùng can chi một cách hữu ích, có thể bắt đầu từ việc tra đúng năm, tháng, ngày âm lịch cho các mốc của gia đình mình ở trang lịch âm, hoặc tìm hiểu lớp ngũ hành mà thuyết "lửa chồng lửa" dựa vào. Năm 2027 cụ thể thế nào về lịch, xem bài năm Đinh Mùi 2027.
Câu hỏi thường gặp
Năm Bính Ngọ là những năm nào?
Các năm Bính Ngọ gần đây là 1846, 1906, 1966, 2026, và lần tới là 2086. Năm dương lịch tận cùng bằng 6 luôn có can Bính, và năm Bính Ngọ cách nhau đúng 60 năm. Năm Đinh Mùi là năm liền sau: 1847, 1907, 1967, 2027.
Năm 1966 Bính Ngọ có chuyện gì?
Năm 1966 có Cách mạng Văn hóa bắt đầu ở Trung Quốc, động đất Hình Đài, và chiến tranh Việt Nam leo thang. Năm 1967 có chiến tranh Sáu ngày ở Trung Đông, nội chiến Nigeria, nhưng cũng là năm ASEAN ra đời.
Năm 1906 Bính Ngọ có chuyện gì?
Năm 1906 có động đất San Francisco và nạn đói ở miền trung Trung Quốc kéo sang 1907. Ở Việt Nam, năm Đinh Mùi 1907 vua Thành Thái bị phế và Đông Kinh Nghĩa Thục được mở.
Loạn Tĩnh Khang có phải năm Bính Ngọ không?
Có. Quân Kim vây kinh đô Bắc Tống năm Bính Ngọ 1126 và hạ thành năm Đinh Mùi 1127, bắt hai vua Huy Tông, Khâm Tông. Đây là sự kiện khiến người đời Tống tin vào "ách Bính Đinh", và là ví dụ được nhắc nhiều nhất.
Các năm Bính Ngọ – Đinh Mùi có nhiều tai họa hơn năm khác không?
Không. Trong hơn một nghìn chiến tranh, nạn đói, dịch bệnh và thiên tai lớn được Wikipedia liệt kê, tỉ lệ khởi vào cặp năm này là 2,0%, thấp hơn mức 3,3% nếu chia đều cho 60 năm can chi.
Sách "Bính Đinh quy giám" ghi những năm nào?
Sách của Sài Vọng (dâng năm 1246) ghi 21 cặp năm Bính Ngọ – Đinh Mùi từ năm 255 TCN đời Tần đến năm 946–947 đời Hậu Tấn, trải 1.260 năm, kèm lời bàn cho từng cặp. Một số bản tóm tắt còn chép thêm vài cặp đời Tống.