14 chính tinh Tử Vi chỉ có đúng 12 bố cục, vì toàn bộ vị trí của chúng chỉ phụ thuộc vào một con số: sao Tử Vi đóng ở cung nào. Mười hai bố cục này lại gom được thành sáu cặp, vì dời Tử Vi sang cung đối diện thì cả bàn sao xoay đúng nửa vòng. Và bên trong mỗi bố cục, phép phản chiếu qua trục Dần–Thân ghép các sao thành năm đôi: Tử–Phủ, Cơ–Nguyệt, Nhật–Cự, Vũ–Tướng, Đồng–Lương, đúng những cặp tên sách Tử Vi vẫn gọi.
Bài này đưa bảng 12 bố cục chính tinh sinh bằng code của trang lập lá số Tử Vi, giải thích các đối xứng của nó và các cách cục nổi tiếng gắn với từng bố cục. Đây là bài thứ tư trong loạt "Tử Vi như một hệ thống tính toán". Cách an từng sao có ở bài Cách an sao Tử Vi.
Vì sao 14 chính tinh chỉ có 12 bố cục
Nhắc lại hai quy tắc an chính tinh, đánh số Tý = 0… Hợi = 11:
- Chòm Tử Vi: Tử Vi tại t; Thiên Cơ t − 1; Thái Dương t − 3; Vũ Khúc t − 4; Thiên Đồng t − 5; Liêm Trinh t − 8.
- Chòm Thiên Phủ: Thiên Phủ tại p = 4 − t; Thái Âm p + 1; Tham Lang p + 2; Cự Môn p + 3; Thiên Tướng p + 4; Thiên Lương p + 5; Thất Sát p + 6; Phá Quân p + 10.
Chỉ có một biến là t, nhận 12 giá trị, nên có đúng 12 cách bày 14 chính tinh. Mọi lá số đều rơi vào một trong 12 bố cục này; cung Mệnh, phụ tinh, Tứ Hóa mới làm các lá số cùng bố cục khác nhau.
Mười hai bố cục không đều nhau về tần suất: Tử Vi ở Thìn gặp nhiều nhất, ở Tý ít nhất (xem Cách an sao Tử Vi).
Bảng 12 bố cục chính tinh
Bảng dưới chạy đủ 12 vị trí của Tử Vi. Mỗi hàng là một bố cục, cột giữa bày sao theo thứ tự cung từ Tý đến Hợi, cung không có chính tinh được bỏ qua.
| Tử Vi | Phủ | Bày sao theo cung | Cung trống |
|---|---|---|---|
| Tý | Thìn | Tý Tử Vi · Dần Phá · Thìn Liêm Phủ · Tỵ Âm · Ngọ Tham · Mùi Đồng Cự · Thân Vũ Tướng · Dậu Nhật Lương · Tuất Sát · Hợi Cơ | Sửu, Mão |
| Sửu | Mão | Tý Cơ · Sửu Tử Phá · Mão Phủ · Thìn Âm · Tỵ Liêm Tham · Ngọ Cự · Mùi Tướng · Thân Đồng Lương · Dậu Vũ Sát · Tuất Nhật | Dần, Hợi |
| Dần | Dần | Tý Phá · Sửu Cơ · Dần Tử Phủ · Mão Âm · Thìn Tham · Tỵ Cự · Ngọ Liêm Tướng · Mùi Lương · Thân Sát · Dậu Đồng · Tuất Vũ · Hợi Nhật | không |
| Mão | Sửu | Tý Nhật · Sửu Phủ · Dần Cơ Âm · Mão Tử Tham · Thìn Cự · Tỵ Tướng · Ngọ Lương · Mùi Liêm Sát · Tuất Đồng · Hợi Vũ Phá | Thân, Dậu |
| Thìn | Tý | Tý Vũ Phủ · Sửu Nhật Âm · Dần Tham · Mão Cơ Cự · Thìn Tử Tướng · Tỵ Lương · Ngọ Sát · Thân Liêm · Tuất Phá · Hợi Đồng | Mùi, Dậu |
| Tỵ | Hợi | Tý Đồng Âm · Sửu Vũ Tham · Dần Nhật Cự · Mão Tướng · Thìn Cơ Lương · Tỵ Tử Sát · Dậu Liêm Phá · Hợi Phủ | Ngọ, Mùi, Thân, Tuất |
| Ngọ | Tuất | Tý Tham · Sửu Đồng Cự · Dần Vũ Tướng · Mão Nhật Lương · Thìn Sát · Tỵ Cơ · Ngọ Tử Vi · Thân Phá · Tuất Liêm Phủ · Hợi Âm | Mùi, Dậu |
| Mùi | Dậu | Tý Cự · Sửu Tướng · Dần Đồng Lương · Mão Vũ Sát · Thìn Nhật · Ngọ Cơ · Mùi Tử Phá · Dậu Phủ · Tuất Âm · Hợi Liêm Tham | Tỵ, Thân |
| Thân | Thân | Tý Liêm Tướng · Sửu Lương · Dần Sát · Mão Đồng · Thìn Vũ · Tỵ Nhật · Ngọ Phá · Mùi Cơ · Thân Tử Phủ · Dậu Âm · Tuất Tham · Hợi Cự | không |
| Dậu | Mùi | Tý Lương · Sửu Liêm Sát · Thìn Đồng · Tỵ Vũ Phá · Ngọ Nhật · Mùi Phủ · Thân Cơ Âm · Dậu Tử Tham · Tuất Cự · Hợi Tướng | Dần, Mão |
| Tuất | Ngọ | Tý Sát · Dần Liêm · Thìn Phá · Tỵ Đồng · Ngọ Vũ Phủ · Mùi Nhật Âm · Thân Tham · Dậu Cơ Cự · Tuất Tử Tướng · Hợi Lương | Sửu, Mão |
| Hợi | Tỵ | Mão Liêm Phá · Tỵ Phủ · Ngọ Đồng Âm · Mùi Vũ Tham · Thân Nhật Cự · Dậu Tướng · Tuất Cơ Lương · Hợi Tử Sát | Tý, Sửu, Dần, Thìn |
(Viết tắt: Tử = Tử Vi, Cơ = Thiên Cơ, Nhật = Thái Dương, Vũ = Vũ Khúc, Đồng = Thiên Đồng, Liêm = Liêm Trinh, Phủ = Thiên Phủ, Âm = Thái Âm, Tham = Tham Lang, Cự = Cự Môn, Tướng = Thiên Tướng, Lương = Thiên Lương, Sát = Thất Sát, Phá = Phá Quân.)
Hai bố cục Tử Vi ở Dần, Thân phủ kín 12 cung. Hai bố cục Tử Vi ở Tỵ, Hợi trống tới 4 cung. Tám bố cục còn lại trống đúng 2 cung. Để hiểu thêm về cung không chính tinh, đọc Mệnh vô chính diệu.
Đối xứng thứ nhất: dời Tử Vi sang cung đối diện, cả bàn xoay nửa vòng
Nếu Tử Vi dời 6 cung, t thành t + 6, thì Thiên Phủ thành 4 − t − 6, cũng là dời 6 cung. Mọi sao đều dời 6 cung. Vậy bố cục Tử Vi ở Ngọ chính là bố cục Tử Vi ở Tý xoay nửa vòng, sao nào cũng sang cung đối diện, đồng cung với đúng những sao cũ.
Đem đối chiếu bảng trên sẽ thấy: Tý có Tử Vi một mình, Ngọ có Tử Vi một mình; Thìn có Liêm Phủ, thì Tuất có Liêm Phủ. Cứ thế, 12 bố cục gom thành 6 cặp, và người học Tử Vi thường gọi tên theo sao đồng cung với Tử Vi:
| Cặp bố cục | Tử Vi đồng cung với | Cung trống |
|---|---|---|
| Tý – Ngọ | đứng một mình | 2 |
| Sửu – Mùi | Phá Quân | 2 |
| Dần – Thân | Thiên Phủ | 0 |
| Mão – Dậu | Tham Lang | 2 |
| Thìn – Tuất | Thiên Tướng | 2 |
| Tỵ – Hợi | Thất Sát | 4 |
Hai bố cục cùng cặp có cấu trúc y hệt, chỉ khác địa chi. Nhưng địa chi quyết định độ sáng miếu hãm (Thái Dương ở Mão khác ở Dậu), nên cách luận vẫn khác.
Đối xứng thứ hai: phản chiếu qua trục Dần–Thân và năm cặp sao nổi tiếng
Quy tắc Phủ = 4 − Tử là một phép phản chiếu: gấp địa bàn theo đường nối Dần và Thân, cung x chồng lên cung 4 − x. Tý chồng Thìn, Sửu chồng Mão, Tỵ chồng Hợi, Ngọ chồng Tuất, Mùi chồng Dậu. Dần và Thân nằm trên nếp gấp nên chồng lên chính nó.
Giữa các bố cục, phép này đổi chỗ Tử Vi và Thiên Phủ: bố cục Tử Vi ở Tý có Phủ ở Thìn, còn bố cục Tử Vi ở Thìn có Phủ ở Tý. Các cặp "trao đổi" là Tý–Thìn, Sửu–Mão, Tỵ–Hợi, Ngọ–Tuất, Mùi–Dậu; Dần và Thân tự thành cặp với chính nó. Nhưng cần nói rõ: hai bố cục trao đổi này không phải ảnh gương trọn vẹn của nhau, vì chòm Tử Vi có 6 sao còn chòm Thiên Phủ có 8 sao, khoảng cách khác nhau. Chúng tôi đã chạy code để kiểm: phản chiếu bố cục Tử Vi ở Tý không ra bố cục Tử Vi ở Thìn.
Bên trong một bố cục thì phép phản chiếu cho kết quả đẹp hơn nhiều. Tính thử ảnh gương của từng sao chòm Tử Vi:
| Sao chòm Tử Vi | Vị trí | Ảnh qua trục Dần–Thân | Là vị trí của |
|---|---|---|---|
| Tử Vi | t | 4 − t | Thiên Phủ |
| Thiên Cơ | t − 1 | 5 − t | Thái Âm |
| Thái Dương | t − 3 | 7 − t | Cự Môn |
| Vũ Khúc | t − 4 | 8 − t | Thiên Tướng |
| Thiên Đồng | t − 5 | 9 − t | Thiên Lương |
| Liêm Trinh | t − 8 | 12 − t | (không sao nào của chòm Phủ) |
Năm cặp gương là Tử–Phủ, Cơ–Nguyệt, Nhật–Cự, Vũ–Tướng, Đồng–Lương. Đây đúng là những cặp tên đã quen trong sách Tử Vi: "Tử Phủ đồng cung", "Cơ Nguyệt", "Cự Nhật", "Vũ Tướng", "Đồng Lương". Bốn sao Liêm Trinh, Tham Lang, Thất Sát, Phá Quân không có bạn gương.
Hệ quả trực tiếp: hai sao trong một cặp gương chỉ có thể đồng cung trên nếp gấp, tức tại Dần hoặc Thân. Chạy code cho cả 12 bố cục xác nhận:
- Tử Phủ đồng cung tại Dần, Thân (Tử Vi ở Dần, Thân).
- Cơ Âm đồng cung tại Dần, Thân (Tử Vi ở Mão, Dậu).
- Cự Nhật đồng cung tại Dần, Thân (Tử Vi ở Tỵ, Hợi).
- Vũ Tướng đồng cung tại Dần, Thân (Tử Vi ở Tý, Ngọ).
- Đồng Lương đồng cung tại Dần, Thân (Tử Vi ở Sửu, Mùi).
Vậy trục Dần–Thân là nơi duy nhất năm cặp gương gặp nhau. Ở bài Tứ Hóa có "hàm số" không, chúng tôi đã thấy cũng trục này làm nên "đường kính vắng Hóa Lộc". Ở đây nó làm nên năm cặp sao.
Hai họ bố cục: Tử Vi ở cung dương và Tử Vi ở cung âm
Xét theo bốn nhóm tam hợp (Thân Tý Thìn, Tỵ Dậu Sửu, Dần Ngọ Tuất, Hợi Mão Mùi), code cho thấy vài nhóm sao luôn đi cùng nhau, ở mọi bố cục:
- Tử Vi, Vũ Khúc, Liêm Trinh luôn cùng một nhóm tam hợp (cách nhau 4 cung).
- Thiên Phủ, Thiên Tướng luôn cùng một nhóm.
- Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang luôn cùng một nhóm. Đây là bộ Sát Phá Tham.
- Thiên Cơ, Thiên Đồng luôn cùng một nhóm; Thái Âm, Thiên Lương cũng vậy.
Còn các khối này ghép với nhau thế nào thì tùy Tử Vi đứng ở cung dương (Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất) hay cung âm (Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi):
| Tử Vi ở cung dương | Tử Vi ở cung âm | |
|---|---|---|
| Nhóm tam hợp có Tử Vi | Tử, Vũ, Liêm + Phủ, Tướng | Tử, Vũ, Liêm + Sát, Phá, Tham |
| Nhóm thứ hai | Sát, Phá, Tham | Cơ, Đồng, Nguyệt, Lương |
| Nhóm thứ ba | Nhật, Nguyệt, Lương | Nhật, Cự |
| Nhóm thứ tư | Cơ, Đồng, Cự | Phủ, Tướng |
Nói gọn: bộ Tử Phủ Vũ Tướng chỉ hội đủ trong một tam phương khi Tử Vi ở cung dương; bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương chỉ hội đủ khi Tử Vi ở cung âm. Hai bộ này không bao giờ cùng xuất hiện trọn vẹn trên một lá số. Đây là lý do sách hay chia lá số thành "kiểu Tử Phủ" và "kiểu Cơ Nguyệt Đồng Lương" như hai họ lớn, còn Sát Phá Tham thì họ nào cũng có.
Các cách cục nổi tiếng gắn với từng bố cục
Cách cục là tên gọi một thế sao cụ thể, thường xét tại cung Mệnh. Dưới đây là những cách phổ biến, kèm bố cục nơi chúng có thể xuất hiện. Phần điều kiện kiểm được bằng tính toán; phần ý nghĩa là diễn giải truyền thống, nên đọc như gợi ý.
Tý – Ngọ: Tử Vi đứng một mình
Tử Vi không có chính tinh đi kèm, đối diện là Tham Lang. Khi Tử Vi ở Ngọ thủ Mệnh, sách gọi là Cực hướng Ly minh (sao Bắc Cực hướng về phương Ly sáng), được coi là thế tốt của Tử Vi. Ở Tý thì Tử Vi kém sáng hơn. Bố cục này là họ Tử Phủ Vũ Tướng.
Sửu – Mùi: Tử Vi – Phá Quân
Đế tinh đi cùng sao phá cũ lập mới. Sách mô tả người có khí phách nhưng hay muốn làm theo ý mình. Cùng bố cục có Thiên Đồng – Thiên Lương đồng cung tại Thân hoặc Dần.
Dần – Thân: Tử Phủ đồng cung
Cách cục Tử Phủ đồng cung khi Mệnh tại Dần hoặc Thân có cả Tử Vi và Thiên Phủ. Bố cục này phủ kín 12 cung, nên không có Mệnh vô chính diệu. Trang có kiểm tra cách này trên lá số, và sách còn đòi thêm cát tinh hội về mới coi là trọn.
Mão – Dậu: Tử Vi – Tham Lang
Sách gọi Tử Tham ở Mão, Dậu là thế Đào hoa phạm chủ, vì Tham Lang mang tính đào hoa ngồi cùng đế tinh. Đây là bố cục họ Cơ Nguyệt Đồng Lương: Cơ Âm đồng cung tại Dần hoặc Thân, và bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương hội đủ ở nhóm Dần Ngọ Tuất (với Tử Vi ở Mão) hoặc Thân Tý Thìn (với Tử Vi ở Dậu).
Thìn – Tuất: Tử Vi – Thiên Tướng
Thìn, Tuất được gọi là Thiên La, Địa Võng (lưới trời, lưới đất). Sách cho rằng Tử Vi gặp La Võng thì khó thi thố trọn vẹn. Cùng bố cục, Vũ Khúc – Thiên Phủ đồng cung tại Tý hoặc Ngọ, Thiên Cơ – Cự Môn tại Mão hoặc Dậu.
Tỵ – Hợi: Tử Vi – Thất Sát
Đế tinh cầm quân, thế quyết liệt. Bố cục có 4 cung trống, nên khả năng Mệnh vô chính diệu cao nhất (4 trên 12 vị trí Mệnh). Đây cũng là bố cục duy nhất có Cự Nhật đồng cung tại Dần hoặc Thân, và Liêm Trinh – Phá Quân tại Dậu hoặc Mão. Lá số ví dụ của loạt bài này (Tử Vi – Thất Sát ở Tỵ) thuộc bố cục này.
Sát Phá Tham và Thất Sát triều đẩu
Vì Sát, Phá, Tham luôn tam hợp, cung nào có một sao thì tam phương có đủ ba. Cách Sát Phá Tham vì vậy có mặt ở cả 12 bố cục, chỉ cần Mệnh rơi vào nhóm tam hợp đó. Riêng Thất Sát triều đẩu đòi Thất Sát thủ Mệnh tại Tý, Ngọ, Dần, Thân và có cát tinh; Thất Sát ở Tý, Ngọ chỉ xảy ra khi Tử Vi ở Tuất, Thìn, còn ở Dần, Thân khi Tử Vi ở Dần, Thân.
Tính chất từng sao xem bài 14 chính tinh Tử Vi.
Đọc một lá số theo bố cục: 12 × 12 khung
Bố cục cho biết sao nằm đâu, cung Mệnh cho biết người ấy "đứng" ở đâu trong bố cục: 12 × 12 = 144 khung cơ bản. Cách dùng bài này: mở lá số trên trang, xem Tử Vi ở cung nào để biết bố cục, xác định Mệnh thuộc nhóm tam hợp nào (Tử Vũ Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương hay Nhật Cự…), rồi mới đọc chi tiết từng sao, đến phụ tinh ở bài Lục cát lục sát Tử Vi và vận hạn ở bài Đại hạn, tiểu hạn, lưu niên trong Tử Vi.
Câu hỏi thường gặp
Có bao nhiêu bố cục chính tinh trong Tử Vi?
Có đúng 12, ứng với 12 cung mà sao Tử Vi có thể đóng. Vì 13 chính tinh còn lại an theo khoảng cách cố định từ Tử Vi và Thiên Phủ, nên biết Tử Vi ở đâu là biết cả bộ.
Tử Phủ đồng cung xảy ra khi nào?
Khi sao Tử Vi đóng tại Dần hoặc Thân. Đó là hai điểm nằm trên trục phản chiếu, nên Thiên Phủ trùng chỗ với Tử Vi. Cách cục Tử Phủ đồng cung đòi thêm cung Mệnh đặt tại chính cung đó.
Vì sao lá số có cung không có chính tinh?
Vì nhiều cặp sao đồng cung, 14 sao chỉ chiếm 10 hoặc 8 cung. Tám bố cục trống 2 cung, bố cục Tử Vi ở Tỵ, Hợi trống 4 cung, chỉ bố cục Tử Vi ở Dần, Thân là không trống cung nào.
Cơ Nguyệt Đồng Lương và Tử Phủ Vũ Tướng có cùng xuất hiện được không?
Không trọn vẹn trong cùng một tam phương. Code cho thấy bộ Tử Phủ Vũ Tướng chỉ hội đủ khi Tử Vi ở cung dương, còn bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương chỉ hội đủ khi Tử Vi ở cung âm.
Thìn Tuất là Thiên La Địa Võng nghĩa là gì?
Đó là tên truyền thống gọi hai cung Thìn và Tuất, coi như lưới trời lưới đất. Sách cho rằng một số sao, nhất là Tử Vi, gặp La Võng thì khó phát huy. Đây là diễn giải truyền thống, không phải quy tắc an sao.
Hai lá số cùng bố cục thì có giống nhau không?
Không. Cùng bố cục chỉ có nghĩa 14 chính tinh nằm cùng chỗ. Cung Mệnh, phụ tinh, Tứ Hóa, Tuần Triệt và vận hạn vẫn khác, nên cách luận khác hẳn.