Lục cát lục sát là mười hai phụ tinh quan trọng nhất của Tử Vi, chia thành sáu cát tinh (Tả Phù, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt) và sáu sát tinh (Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp). Chúng không an theo sao Tử Vi mà theo tháng sinh, giờ sinh hoặc can năm sinh, và hầu hết đi thành cặp. Cát tinh trợ lực cho chính tinh, sát tinh gây sức ép, nhưng sách Tử Vi luôn đọc chúng trong tương quan với chính tinh chứ không cộng trừ điểm.
Bài này là phần thứ năm của loạt "Tử Vi như một hệ thống tính toán". Mọi bảng dưới đây sinh từ code của trang lập lá số Tử Vi. Riêng cách an Hỏa Tinh, Linh Tinh có hai lối và bài nói rõ ở phần riêng (trang đã sửa theo lối Việt Nam ngày 5/10/2026).
Lục cát lục sát gồm những sao nào
| Nhóm | Cặp sao | An theo | Hành thường ghi |
|---|---|---|---|
| Lục cát | Tả Phù, Hữu Bật | Tháng sinh | Tả Thổ, Hữu Thủy |
| Lục cát | Văn Xương, Văn Khúc | Giờ sinh | Xương Kim, Khúc Thủy |
| Lục cát | Thiên Khôi, Thiên Việt | Can năm sinh | Hỏa |
| Lục sát | Kình Dương, Đà La | Can năm (theo Lộc Tồn) | Kim |
| Lục sát | Hỏa Tinh, Linh Tinh | Chi năm sinh, giờ sinh | Hỏa |
| Lục sát | Địa Không, Địa Kiếp | Giờ sinh | Hỏa |
Một số sách Việt tính rộng hơn, gộp thêm Lộc Tồn và Thiên Mã vào nhóm cát, hoặc gọi chung "lục sát" là "tứ sát" cộng Không Kiếp. Bài này theo cách chia sáu – sáu phổ biến nhất.
Vì sao đi thành cặp? Trong Tử Vi, cặp sao hội đủ thì mới mạnh. Tả Phù mà không có Hữu Bật, Văn Xương mà thiếu Văn Khúc thì sức trợ giúp được cho là giảm. Với sát tinh cũng vậy: Kình Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp cùng giáp hoặc cùng chiếu một cung thì sức ép rõ hơn một sao lẻ.
Cách an Tả Phù, Hữu Bật theo tháng sinh
- Tả Phù: khởi tháng Giêng tại Thìn, đếm thuận đến tháng sinh.
- Hữu Bật: khởi tháng Giêng tại Tuất, đếm nghịch đến tháng sinh.
| Tháng âm | Tả Phù | Hữu Bật |
|---|---|---|
| 1 | Thìn | Tuất |
| 2 | Tỵ | Dậu |
| 3 | Ngọ | Thân |
| 4 | Mùi | Mùi |
| 5 | Thân | Ngọ |
| 6 | Dậu | Tỵ |
| 7 | Tuất | Thìn |
| 8 | Hợi | Mão |
| 9 | Tý | Dần |
| 10 | Sửu | Sửu |
| 11 | Dần | Tý |
| 12 | Mão | Hợi |
Tả Hữu đồng cung khi sinh tháng 4 (tại Mùi) hoặc tháng 10 (tại Sửu). Trang ghi chú rằng Tả Phù, Hữu Bật là một trong những phụ tinh có khác biệt giữa các phái; trang theo lối Tử Vi Việt Nam như bảng trên.
Cách an Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp theo giờ sinh
Bốn sao này cùng an theo giờ sinh, nên đặt chung một bảng:
- Văn Xương: khởi giờ Tý tại Tuất, đếm nghịch đến giờ sinh.
- Văn Khúc: khởi giờ Tý tại Thìn, đếm thuận.
- Địa Không: khởi giờ Tý tại Hợi, đếm nghịch.
- Địa Kiếp: khởi giờ Tý tại Hợi, đếm thuận.
| Giờ sinh | Văn Xương | Văn Khúc | Địa Không | Địa Kiếp |
|---|---|---|---|---|
| Tý | Tuất | Thìn | Hợi | Hợi |
| Sửu | Dậu | Tỵ | Tuất | Tý |
| Dần | Thân | Ngọ | Dậu | Sửu |
| Mão | Mùi | Mùi | Thân | Dần |
| Thìn | Ngọ | Thân | Mùi | Mão |
| Tỵ | Tỵ | Dậu | Ngọ | Thìn |
| Ngọ | Thìn | Tuất | Tỵ | Tỵ |
| Mùi | Mão | Hợi | Thìn | Ngọ |
| Thân | Dần | Tý | Mão | Mùi |
| Dậu | Sửu | Sửu | Dần | Thân |
| Tuất | Tý | Dần | Sửu | Dậu |
| Hợi | Hợi | Mão | Tý | Tuất |
Văn Xương, Văn Khúc trên lá số gốc an theo giờ, các nguồn thống nhất. Có một loại "lưu Xương, lưu Khúc" an theo can năm xem hạn; trang tách riêng và ghi chú rằng bảng đó trùng với bảng thần sát Văn Xương quý nhân của Bát Tự, nên chỉ để tham khảo. Xem bài Đại hạn, tiểu hạn, lưu niên trong Tử Vi.
Cách an Thiên Khôi, Thiên Việt và Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La theo can năm
Thiên Khôi, Thiên Việt an theo can năm sinh, câu vần quen thuộc: "Giáp Mậu Canh ngưu dương, Ất Kỷ thử hầu hương, Bính Đinh trư kê vị, Nhâm Quý thố xà tàng, Lục Tân phùng mã hổ" (Giáp Mậu Canh ở Sửu Mùi, Ất Kỷ ở Tý Thân, Bính Đinh ở Hợi Dậu, Nhâm Quý ở Mão Tỵ, Tân ở Ngọ Dần).
Lộc Tồn an theo can năm, rồi Kình Dương đứng ngay cung sau Lộc Tồn (thuận một cung), Đà La đứng ngay cung trước (nghịch một cung).
| Can năm | Thiên Khôi | Thiên Việt | Lộc Tồn | Kình Dương | Đà La |
|---|---|---|---|---|---|
| Giáp | Sửu | Mùi | Dần | Mão | Sửu |
| Ất | Tý | Thân | Mão | Thìn | Dần |
| Bính | Hợi | Dậu | Tỵ | Ngọ | Thìn |
| Đinh | Hợi | Dậu | Ngọ | Mùi | Tỵ |
| Mậu | Sửu | Mùi | Tỵ | Ngọ | Thìn |
| Kỷ | Tý | Thân | Ngọ | Mùi | Tỵ |
| Canh | Sửu | Mùi | Thân | Dậu | Mùi |
| Tân | Ngọ | Dần | Dậu | Tuất | Thân |
| Nhâm | Mão | Tỵ | Hợi | Tý | Tuất |
| Quý | Mão | Tỵ | Tý | Sửu | Hợi |
Chỗ bất đồng đáng biết: một số sách Trung Hoa (thường gắn với Trung Châu phái) đặt Khôi Việt của can Canh ở Ngọ Dần như can Tân, theo câu "Canh Tân phùng mã hổ". Trang theo câu "Giáp Mậu Canh ngưu dương" phổ biến trong sách Việt, tức Canh ở Sửu Mùi.
Lộc Tồn kẹp giữa Kình Dương và Đà La
Đây là cấu trúc dễ nhớ nhất của phụ tinh: Kình Dương và Đà La luôn đứng hai bên Lộc Tồn, như hai người gác cổng kho. Sách xưa ví Lộc Tồn là kho lộc, Kình Đà là hai mũi nhọn giữ kho.
Từ cấu trúc này suy ra một điều chắc chắn: "Kình Đà giáp Mệnh" xảy ra khi và chỉ khi Lộc Tồn thủ Mệnh. Cách cục "Kình Đà giáp Mệnh" (trang xếp vào hung cách) và cách "Lộc Tồn thủ Mệnh" (thường coi là cát) thực ra là hai mặt của cùng một thế sao. Người đọc lá số nên đọc cả hai cùng lúc: có lộc nhưng giữ lộc phải chịu sức ép từ hai phía.
Một điểm nữa kiểm được trên bảng: Lộc Tồn không bao giờ đóng ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi (tứ mộ). Khác biệt giữa Lộc Tồn và Hóa Lộc, cùng những chỗ hay lẫn, xem ở bài Lộc Tồn là gì.
Hỏa Tinh, Linh Tinh: chỗ các nguồn khác nhau, và trang đang tính thế nào
Hỏa Tinh, Linh Tinh khởi theo nhóm tam hợp của chi năm sinh, coi cung khởi là giờ Tý, rồi đếm đến giờ sinh. Cung khởi thì các nguồn thống nhất:
| Chi năm sinh | Hỏa Tinh khởi | Linh Tinh khởi |
|---|---|---|
| Dần, Ngọ, Tuất | Sửu | Mão |
| Thân, Tý, Thìn | Dần | Tuất |
| Tỵ, Dậu, Sửu | Mão | Tuất |
| Hợi, Mão, Mùi | Dậu | Tuất |
(Câu vần: "Dần Ngọ Tuất nhân Sửu Mão phương, Thân Tý Thìn nhân Dần Tuất dương, Tỵ Dậu Sửu nhân Mão Tuất vị, Hợi Mão Mùi nhân Dậu Tuất phòng".)
Còn chiều đếm thì có ba lối:
| Lối | Dương nam, âm nữ | Âm nam, dương nữ |
|---|---|---|
| Phổ biến trong sách Tử Vi Việt Nam | Hỏa thuận, Linh nghịch | Hỏa nghịch, Linh thuận |
| Theo Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư và nhiều sách Trung Hoa | Cả hai thuận | Cả hai thuận |
| Trang Huyền (từ 5/10/2026) | Hỏa thuận, Linh nghịch | Hỏa nghịch, Linh thuận |
Đính chính: trước ngày 5/10/2026, code của trang cho Hỏa và Linh luôn đi cùng chiều (thuận với dương nam, âm nữ; nghịch với âm nam, dương nữ), không trùng lối nào trong hai lối phổ biến. Khi viết loạt bài này chúng tôi phát hiện ra và đã sửa theo lối Việt Nam, lối mà phần lớn sách Tử Vi tiếng Việt dùng. Nếu bạn lập lá số trước ngày ấy và lá số có Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh, hãy lập lại để xem vị trí đúng. Ai theo Toàn Thư thì tự tính lại theo lối cả hai đi thuận.
Ví dụ với lá số giả định của loạt bài (năm Canh Ngọ, giờ Tỵ, Hỏa khởi Sửu, Linh khởi Mão):
| Trường hợp | Lối Việt | Lối Toàn Thư | Trang |
|---|---|---|---|
| Nam (dương nam) | Hỏa Ngọ, Linh Tuất | Hỏa Ngọ, Linh Thân | Hỏa Ngọ, Linh Tuất |
| Nữ (dương nữ) | Hỏa Thân, Linh Thân | Hỏa Ngọ, Linh Thân | Hỏa Thân, Linh Thân |
Những đối xứng ẩn trong cách an lục cát lục sát
Đặt các cặp sao lên địa bàn, code cho thấy mỗi cặp là ảnh gương của nhau qua một trục cố định, giống cách Tử Vi và Thiên Phủ đối xứng qua trục Dần–Thân ở bài 12 bố cục chính tinh Tử Vi:
| Cặp sao | Trục đối xứng | Đồng cung khi | Kẹp được cung nào |
|---|---|---|---|
| Tả Phù – Hữu Bật | Sửu – Mùi | Tháng 4 (Mùi), tháng 10 (Sửu) | Chỉ Sửu hoặc Mùi |
| Văn Xương – Văn Khúc | Sửu – Mùi | Giờ Mão (Mùi), giờ Dậu (Sửu) | Chỉ Sửu hoặc Mùi |
| Thiên Khôi – Thiên Việt | Thìn – Tuất | Không bao giờ | Không vào Thìn, Tuất |
| Địa Không – Địa Kiếp | Tỵ – Hợi | Giờ Tý (Hợi), giờ Ngọ (Tỵ) | Chỉ Tỵ hoặc Hợi |
| Kình Dương – Đà La | Cung Lộc Tồn | Không bao giờ | Luôn kẹp Lộc Tồn |
Vài hệ quả cụ thể, đều chạy bằng code trên 144 tổ hợp tháng × giờ:
- Tả Hữu giáp Mệnh chỉ xảy ra ở 4 trên 144 tổ hợp, và Mệnh khi đó luôn ở Sửu hoặc Mùi.
- Xương Khúc giáp Mệnh cũng chỉ 4 trên 144 tổ hợp, Mệnh luôn ở Sửu hoặc Mùi.
- Không Kiếp giáp Mệnh chỉ 4 trên 144 tổ hợp (sinh tháng 9 hoặc tháng 11, giờ Sửu, Tỵ, Mùi hoặc Hợi), Mệnh luôn ở Tỵ hoặc Hợi.
- Thiên Khôi, Thiên Việt đối xứng qua Thìn–Tuất, nên không bao giờ vào Thìn, Tuất, tức không bao giờ đóng ở Thiên La, Địa Võng. Điều này nhìn bảng tra theo can thì khó thấy, đặt lên địa bàn mới lộ ra.
Những cách cục "giáp" này hiếm vì hình học buộc chúng hiếm, không phải vì người xưa chọn cho hiếm.
Tính chất lục cát lục sát và cách đọc
Mô tả dưới đây là diễn giải truyền thống, tóm theo hướng "lợi cho việc gì":
| Sao | Lối hiểu thường gặp |
|---|---|
| Tả Phù, Hữu Bật | Người giúp đỡ, trợ thủ, khả năng tập hợp người. Chính tinh có Tả Hữu được coi là có "cánh tay". |
| Văn Xương, Văn Khúc | Học vấn, văn chương, giấy tờ, khẩu tài. Xương thiên về chữ nghĩa chính quy, Khúc thiên về tài nghệ, ăn nói. |
| Thiên Khôi, Thiên Việt | Quý nhân, cơ hội được nâng đỡ. Khôi được coi là quý nhân ban ngày, Việt là quý nhân ban đêm. |
| Kình Dương, Đà La | Kình là sức ép trực diện, cạnh tranh, dao kéo; Đà là trì trệ, dây dưa, vướng lâu. |
| Hỏa Tinh, Linh Tinh | Nóng vội, bùng phát, biến cố bất ngờ. Hỏa lộ ra ngoài, Linh âm ỉ bên trong. |
| Địa Không, Địa Kiếp | Hao hụt, trống rỗng, ý tưởng khác thường. Hợp việc phi vật chất, nghiên cứu, kém hợp giữ của. |
Ba nguyên tắc đọc mà các sách đều nhắc:
- Sát tinh không đồng nghĩa với xấu. Tham Lang gặp Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh thành cách "Hỏa Tham", "Linh Tham", được coi là phát nhanh. Thất Sát, Phá Quân có Kình Dương đôi khi được nói là thêm quyết đoán. Trang có kiểm cách Hỏa Tham, Linh Tham trên lá số.
- Cát tinh cần chính tinh đủ sức. Tả Hữu, Khôi Việt bên cạnh chính tinh hãm địa thì trợ được ít hơn.
- Đọc trong tam phương tứ chính. Một sát tinh ở cung xung chiếu Mệnh có sức ảnh hưởng không kém sát tinh ngồi ngay Mệnh.
Trong lá số ví dụ (nam, Canh Ngọ, Mệnh Hợi), cung Mệnh có Thiên Phủ nhưng không có sao nào trong lục cát lục sát. Tam phương thì Thiên Di có Văn Xương; Tài Bạch ở Mùi có Thiên Việt và Đà La; Quan Lộc ở Mão không có sao nào trong nhóm. Người đọc theo lối truyền thống sẽ nói Mệnh "sạch" sát tinh nhưng cũng ít trợ lực trực tiếp, phải dựa vào chính tinh.
Tính chất 14 chính tinh mà các phụ tinh này bám vào, xem 14 chính tinh Tử Vi. Về các vùng "không vong" chắn cung, xem Tuần Triệt.
Câu hỏi thường gặp
Lục cát tinh trong Tử Vi gồm những sao nào?
Tả Phù, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt. Một số sách tính thêm Lộc Tồn và Thiên Mã. Các sao này thường đi theo cặp và mạnh nhất khi hội đủ cặp.
Lục sát tinh gồm những sao nào, có đáng sợ không?
Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp. Chúng tượng trưng cho sức ép, trì trệ, bùng phát và hao hụt, nhưng không đồng nghĩa với xui. Gặp chính tinh phù hợp, có sát tinh lại được coi là tạo thế. Đừng đọc một sao lẻ rồi kết luận.
Kình Dương, Đà La an thế nào?
Tìm Lộc Tồn theo can năm sinh trước. Kình Dương ở cung ngay sau Lộc Tồn theo chiều thuận, Đà La ở cung ngay trước. Vì thế Kình và Đà luôn kẹp Lộc Tồn ở giữa.
Địa Không, Địa Kiếp an theo gì?
Theo giờ sinh. Cả hai khởi giờ Tý tại cung Hợi; Địa Không đếm nghịch, Địa Kiếp đếm thuận đến giờ sinh. Sinh giờ Tý thì hai sao đồng cung ở Hợi, giờ Ngọ thì đồng cung ở Tỵ.
Vì sao Hỏa Tinh, Linh Tinh ở trang này khác chỗ khác?
Vì chiều đếm của hai sao này không thống nhất giữa các nguồn: sách Việt cho Hỏa và Linh đi ngược chiều nhau theo âm dương nam nữ, sách Trung Hoa cho cả hai đi thuận. Trang tính theo lối Việt (đã sửa ngày 5/10/2026; trước đó code lệch cả hai lối ở một số trường hợp).
Lộc Tồn có phải là Hóa Lộc không?
Không. Lộc Tồn là một sao riêng an theo can năm sinh, luôn có Kình Đà kẹp hai bên. Hóa Lộc là một trong Tứ Hóa, bám vào một sao có sẵn theo can năm. Hai sao cùng nói về lộc nhưng khác bản chất.