Thư viện Polaris☯ Hỏi Thầy Huyền

Bát Tự Tứ Trụ là gì? Cách lập 4 trụ theo tiết khí từ A đến Z

Bát Tự Tứ Trụ là gì, lập bốn trụ năm tháng ngày giờ theo tiết khí ra sao, nhật chủ, tàng can, đại vận là gì và khác Tử Vi ở đâu. Có ví dụ lá số tính từng bước.

10 phút đọc

Bốn cột đá cổ đứng giữa biển mây dưới bầu trời đầy sao, một người mặc áo dài đứng xa nhìn lên

Bát Tự (còn gọi là Tứ Trụ hay Tử Bình) là môn lý số lấy thời điểm sinh, quy thành bốn cặp can chi của năm, tháng, ngày, giờ. Bốn cặp ấy là bốn "trụ", tổng cộng tám chữ, nên gọi là bát tự. Người xem lấy can của ngày sinh làm "nhật chủ" đại diện cho bản thân, rồi xét quan hệ ngũ hành giữa nhật chủ với bảy chữ còn lại để luận tính cách và vận trình.

Điểm khiến Bát Tự khác với lịch âm thường dùng: bốn trụ được lập theo tiết khí (vị trí mặt trời), không theo ngày mùng 1 âm lịch. Bài này đi từng bước, có ví dụ cụ thể, để bạn tự hiểu được lá số của mình.

Bát Tự Tứ Trụ là gì và từ đâu ra

Truyền thống kể rằng Lý Hư Trung đời Đường đã dùng can chi năm, tháng, ngày để đoán mệnh. Đến khoảng thời Ngũ Đại sang Tống, Từ Cư Dịch (hiệu Từ Tử Bình) đổi trọng tâm: lấy can ngày làm chủ thay vì can năm, và thêm trụ giờ cho đủ bốn trụ. Vì vậy môn này còn mang tên ông: Tử Bình.

Những sách gốc hay được nhắc:

  • Uyên Hải Tử Bình (đời Tống), một trong những sách hệ thống hóa sớm nhất.
  • Tam Mệnh Thông Hội (đời Minh), bộ sưu tập lớn.
  • Trích Thiên Tủy, nổi tiếng nhờ bản chú của Nhậm Thiết Tiều đời Thanh, thiên về lý vượng suy.
  • Tử Bình Chân Thuyên của Thẩm Hiếu Chiêm đời Thanh, thiên về cách cục.
  • Cùng Thông Bảo Giám, chuyên về điều hậu (cân nóng lạnh theo mùa).

Mỗi sách nhấn một khía cạnh, nên các trường phái Bát Tự ngày nay cũng khác nhau khá nhiều ở phần luận giải. Riêng phần lập lá số thì gần như thống nhất, và đó là trọng tâm bài này.

Cách lập tứ trụ theo tiết khí

Phần lập lá số gồm bốn bước, mỗi bước một trụ. Khác biệt lớn nhất so với lịch âm nằm ở hai trụ đầu.

Trụ năm: đổi năm ở Lập Xuân, không phải Tết

Trụ năm là can chi của năm sinh. Điểm mấu chốt: năm Bát Tự bắt đầu từ tiết Lập Xuân, lúc mặt trời đến kinh độ hoàng đạo 315 độ, rơi vào khoảng 3 hoặc 4 tháng 2 dương lịch hằng năm. Nó không bắt đầu từ mùng 1 Tết.

Tết âm lịch dao động từ khoảng 21/1 đến 20/2, còn Lập Xuân gần như cố định. Vì vậy người sinh trong khoảng giữa hai mốc này có tuổi âm lịch và trụ năm Bát Tự khác nhau. Ví dụ năm 2026, Lập Xuân rơi vào ngày 4/2 còn Tết Bính Ngọ là 17/2. Một em bé sinh ngày 10/2/2026 vẫn đang ở tháng Chạp năm Ất Tỵ theo âm lịch, nhưng trụ năm Bát Tự đã là Bính Ngọ. Chuyện này phân tích kỹ trong bài sinh gần Tết thì tuổi gì.

Trụ tháng: đổi tháng theo 12 tiết

Tháng Bát Tự cũng không theo tháng âm lịch mà đổi ở 12 "tiết" (mỗi tiết cách nhau 30 độ kinh độ mặt trời). Chi tháng cố định, tháng đầu năm luôn là Dần.

Chi thángBắt đầu từ tiếtNgày dương lịch (năm 2026)
DầnLập Xuân4/2
MãoKinh Trập5/3
ThìnThanh Minh5/4
TỵLập Hạ5/5
NgọMang Chủng5/6
MùiTiểu Thử7/7
ThânLập Thu7/8
DậuBạch Lộ7/9
TuấtHàn Lộ8/10
HợiLập Đông7/11
TýĐại Tuyết7/12
SửuTiểu Hàn5/1/2027

Các ngày này xê dịch trong khoảng một ngày giữa các năm. Can tháng suy từ can năm theo quy tắc ngũ hổ độn: năm Giáp, Kỷ thì tháng Dần là Bính Dần; Ất, Canh là Mậu Dần; Bính, Tân là Canh Dần; Đinh, Nhâm là Nhâm Dần; Mậu, Quý là Giáp Dần. Từ tháng Dần, can và chi cùng tiến một bước mỗi tháng.

Trong 24 tiết khí còn có 12 "khí" xen giữa (Vũ Thủy, Xuân Phân, Cốc Vũ...). Các khí này không làm đổi tháng Bát Tự. Lịch âm thông thường thì đổi tháng ở ngày sóc (mùng 1), nên tháng can chi trên tờ lịch và tháng Bát Tự có thể lệch nhau đến gần một tháng.

Trụ ngày và trụ giờ

Trụ ngày là can chi của ngày sinh, chạy liên tục theo vòng 60 không ngắt quãng, không phụ thuộc tháng năm. Không có công thức nhẩm đơn giản, người ta tra lịch hoặc tính từ số ngày Julius. Trang này lấy mốc 01/01/2000 là ngày Mậu Ngọ để suy ra mọi ngày khác.

Trụ giờ: chi giờ theo 12 canh giờ (Tý 23h–1h, Sửu 1h–3h...), còn can giờ suy từ can ngày theo ngũ thử độn: ngày Giáp, Kỷ khởi Giáp Tý; Ất, Canh khởi Bính Tý; Bính, Tân khởi Mậu Tý; Đinh, Nhâm khởi Canh Tý; Mậu, Quý khởi Nhâm Tý.

Hai điểm trang này chọn mà bạn nên biết:

  • Giờ Tý từ 23h tính sang ngày hôm sau, cả trụ ngày lẫn trụ giờ. Một số thầy chỉ đổi ngày lúc 0h; nếu bạn sinh từ 23h đến nửa đêm, hai cách sẽ cho trụ ngày khác nhau.
  • Giờ sinh là giờ đồng hồ Việt Nam (UTC+7), chưa quy đổi về giờ mặt trời thật tại nơi sinh. Trường phái nào chuộng "chân thái dương thời" sẽ hiệu chỉnh thêm vài phút đến vài chục phút. Người sinh ở nước ngoài, hoặc sinh ở những giai đoạn Việt Nam dùng múi giờ khác, cần đổi giờ cho đúng trước khi lập.

Ví dụ lập một lá số từng bước

Lấy một người nam sinh 10 giờ sáng ngày 15/8/1990, giờ Việt Nam. Âm lịch là ngày 25 tháng 6 năm Canh Ngọ.

  1. Trụ năm: sinh sau Lập Xuân 1990 nên là năm Canh Ngọ.
  2. Trụ tháng: 15/8 nằm sau Lập Thu (khoảng 8/8) và trước Bạch Lộ (khoảng 8/9), nên chi tháng là Thân. Năm Canh khởi tháng Dần là Mậu Dần, đếm tới tháng Thân là Giáp Thân. Để ý: theo âm lịch người này sinh tháng 6 (tháng Mùi), nhưng trụ tháng Bát Tự đã sang Thân.
  3. Trụ ngày: tra lịch, ngày 15/8/1990 là Nhâm Tý.
  4. Trụ giờ: 10h thuộc giờ Tỵ. Ngày Nhâm khởi giờ Tý là Canh Tý, đếm tới giờ Tỵ là Ất Tỵ.

Lá số gồm tám chữ:

Trụ giờTrụ ngàyTrụ thángTrụ năm
Thiên canẤtNhâm (nhật chủ)GiápCanh
Địa chiTỵTýThânNgọ
Tàng canBính, Mậu, CanhQuýCanh, Nhâm, MậuĐinh, Kỷ

Theo lệ, lá số Bát Tự thường được viết từ phải sang trái: năm, tháng, ngày, giờ, như bảng trên.

Nhật chủ và tàng can: trung tâm của lá số

Nhật chủ là can của trụ ngày, ở ví dụ trên là Nhâm, hành Thủy dương. Đây là "ta". Mọi chữ khác được gọi tên theo quan hệ với nhật chủ: chữ sinh ra ta, chữ ta sinh, chữ khắc ta, chữ ta khắc, chữ cùng hành. Năm quan hệ ấy chia theo âm dương thành mười thần (thập thần), như Canh ở trụ năm là Thiên Ấn, Giáp ở trụ tháng là Thực Thần. Bài thập thần trong Bát Tự giải thích chi tiết.

Tàng can là các thiên can ẩn trong địa chi. Mỗi chi chứa một đến ba can, can đầu (bản khí) mạnh nhất:

ChiTàng canChiTàng can
TýQuýNgọĐinh, Kỷ
SửuKỷ, Quý, TânMùiKỷ, Đinh, Ất
DầnGiáp, Bính, MậuThânCanh, Nhâm, Mậu
MãoẤtDậuTân
ThìnMậu, Ất, QuýTuấtMậu, Tân, Đinh
TỵBính, Mậu, CanhHợiNhâm, Giáp

Tàng can giải thích vì sao lá số "nhìn bề ngoài" có thể đánh lừa. Ở ví dụ, nhìn tám chữ thấy Thủy chỉ có Nhâm và Tý. Nhưng chi tháng Thân tàng Nhâm, nên Thủy có gốc ở tháng sinh; Canh Kim ở trụ năm và trong Thân, Tỵ lại sinh cho Thủy. Thành ra nhật chủ khá mạnh. Đây chính là việc đánh giá thân vượng hay thân nhược, bước khó và nhiều tranh cãi nhất, có bài riêng: thân vượng, thân nhược và dụng thần.

Đại vận: mười năm một chặng

Ngoài bốn trụ gốc, Bát Tự còn chia đời người thành các chặng 10 năm gọi là đại vận. Cách lập:

  • Chiều đi: nam sinh năm can dương (Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm) và nữ sinh năm can âm đi thuận; nam năm can âm và nữ năm can dương đi nghịch.
  • Xuất phát: từ trụ tháng, đi thuận thì lấy cặp can chi kế tiếp, đi nghịch thì lấy cặp liền trước.
  • Tuổi khởi vận: đếm số ngày từ lúc sinh đến tiết gần nhất (tiết sau nếu thuận, tiết trước nếu nghịch), cứ 3 ngày tính 1 năm.

Ở ví dụ, nam sinh năm Canh (dương) nên đi thuận. Từ 15/8/1990 đến tiết Bạch Lộ khoảng 24 ngày, chia 3 được 8, vậy khởi vận lúc 8 tuổi. Các vận lần lượt là Ất Dậu (8–17 tuổi), Bính Tuất (18–27), Đinh Hợi (28–37), Mậu Tý (38–47)...

Mỗi năm còn có lưu niên là can chi của chính năm đó (năm 2026 là Bính Ngọ). Người xem đặt đại vận và lưu niên chồng lên tứ trụ gốc để xét giai đoạn nào hành nào mạnh lên.

Cách tính tuổi khởi vận có vài biến thể: làm tròn hay giữ lẻ tháng, tính tuổi mụ hay tuổi tròn. Trang này đếm theo ngày và làm tròn xuống tuổi nguyên (tối thiểu 1 tuổi), nên có thể lệch một năm so với sách khác.

Bát Tự khác Tử Vi thế nào

Cả hai cùng dùng ngày giờ sinh, nhưng gần như khác nhau từ gốc:

Bát TựTử Vi Đẩu Số
Lịch dùngTiết khí (dương lịch thiên văn)Âm lịch (năm, tháng, ngày âm)
Đổi nămLập XuânMùng 1 Tết
Dữ liệu chính8 chữ can chi và ngũ hànhHơn trăm sao an vào 12 cung
Trung tâmNhật chủ (can ngày)Cung Mệnh (từ tháng và giờ sinh)
Cách đọcCân bằng ngũ hành, quan hệ sinh khắcÝ nghĩa sao, cung, tứ hóa

So sánh đầy đủ, kể cả môn nào nhạy với giờ sinh hơn, có ở bài Tử Vi hay Bát Tự chính xác hơn. Còn nếu bạn mới làm quen Tử Vi, bài Tử Vi Đẩu Số là gì là chỗ bắt đầu tốt.

Lá số Bát Tự trên trang này tính thế nào

Công cụ lập lá số Bát Tự làm đúng các bước trên: tính kinh độ mặt trời tại giờ sinh để xác định năm (đổi ở 315 độ, tức Lập Xuân) và tháng (đổi ở mỗi tiết), tính trụ ngày từ số ngày Julius, suy trụ giờ, rồi liệt kê tàng can và thập thần của từng chữ. Sau đó trang đếm ngũ hành có trọng số, ước lượng thân vượng nhược, gợi ý dụng thần và lập 9 đại vận.

Hai giới hạn cần biết. Thứ nhất, công thức kinh độ mặt trời là bản rút gọn, thời điểm tiết khí có thể lệch vài phút đến khoảng mười lăm phút so với lịch thiên văn chính xác; người sinh đúng ngày giao tiết nên đối chiếu thêm. Thứ hai, ô nhập giờ chỉ nhận giờ chẵn, nên với người sinh sát mốc tiết khí, kết quả chỉ nên xem là tham khảo.

Câu hỏi thường gặp

Bát Tự và Tứ Trụ có phải là một không?

Là một. Bát Tự (tám chữ) nhấn vào số chữ can chi, Tứ Trụ (bốn cột) nhấn vào bốn trụ năm tháng ngày giờ. Tên Tử Bình lấy theo Từ Tử Bình, người đặt nền cho cách lấy can ngày làm trung tâm.

Không biết giờ sinh có xem Bát Tự được không?

Được một phần. Ba trụ năm, tháng, ngày vẫn lập chính xác, tức sáu trên tám chữ, kể cả nhật chủ. Mất trụ giờ thì thiếu thông tin về giai đoạn cuối đời và con cái theo cách luận truyền thống, và đánh giá vượng nhược kém chắc chắn hơn.

Vì sao tháng sinh trong Bát Tự khác tháng âm lịch của tôi?

Vì Bát Tự đổi tháng theo tiết khí (Lập Xuân, Kinh Trập, Thanh Minh...) chứ không theo ngày mùng 1 âm lịch. Ví dụ người sinh 15/8/1990 là tháng 6 âm lịch, nhưng đã qua Lập Thu nên trụ tháng là Giáp Thân, tức tháng 7 theo tiết.

Nhật chủ là gì?

Nhật chủ là thiên can của ngày sinh, đại diện cho chính người có lá số. Mọi chữ khác được định nghĩa theo quan hệ ngũ hành với nhật chủ, ví dụ chữ sinh cho nhật chủ là Ấn, chữ nhật chủ khắc là Tài.

Bao nhiêu tuổi thì bắt đầu đại vận?

Tùy lá số, thường trong khoảng 1 đến 10 tuổi. Tuổi khởi vận bằng số ngày từ lúc sinh đến tiết khí gần nhất chia 3. Sinh sát ngày giao tiết thì khởi vận sớm, sinh giữa tháng tiết thì khởi vận muộn hơn.

☯ Hỏi Thầy Huyền về bài này

Nội dung mang tính tham khảo và văn hoá; không phải lời khuyên để làm theo.