Mai Hoa Dịch Số là một phép bói Dịch lập quẻ bằng con số thay cho đồng xu hay cỏ thi: lấy năm, tháng, ngày, giờ âm lịch cộng lại, chia cho 8 để ra hai quẻ đơn, chia cho 6 để ra hào động. Sau đó không đọc lời kinh là chính, mà xét quan hệ ngũ hành giữa quẻ thể (mình) và quẻ dụng (việc), qua ba chặng: quẻ chủ, hỗ quẻ, biến quẻ.
Phép này tương truyền do Thiệu Ung (1011–1077, tự Nghiêu Phu, thụy Khang Tiết, nên hay gọi là Thiệu Khang Tiết) đời Bắc Tống sáng lập. Bài này đi từng bước công thức, kèm một ví dụ tính đầy đủ, và nói rõ những chỗ các sách làm khác nhau.
Mai Hoa Dịch Số từ đâu ra?
Thiệu Ung là nhân vật có thật, một trong "Bắc Tống ngũ tử" của Lý học, tác giả Hoàng Cực Kinh Thế, bộ sách dùng con số để sắp xếp lịch sử vũ trụ. Ông nổi tiếng về "tượng số học" (học phái giải Dịch bằng hình tượng và con số), và về Tiên Thiên đồ mà ông truyền lại.
Còn cuốn Mai Hoa Dịch Số thì khác. Sách được gán cho ông, nhưng các nhà nghiên cứu phần lớn cho rằng nó được biên soạn muộn hơn nhiều, có lẽ vào đời Minh, gom các phép chiêm số lưu truyền dưới tên Thiệu Ung. Vì vậy, nói "Thiệu Ung sáng lập Mai Hoa" là cách nói theo truyền thống, nên kèm chữ tương truyền.
Tên "Mai Hoa" (hoa mai) đến từ một giai thoại trong sách. Thiệu Ung ngắm hoa mai, thấy hai con chim sẻ tranh cành rồi rơi xuống đất. Ông cho rằng việc lạ không tự nhiên xảy ra, bèn lấy giờ ấy lập quẻ, đoán chiều hôm sau có cô gái hái hoa, bị người làm vườn đuổi, ngã bị thương ở đùi. Sách chép là việc ứng nghiệm. Đó là chuyện kể, không phải ghi chép kiểm chứng được, nhưng nó cho thấy tinh thần của phép: lập quẻ theo thời điểm của một dấu hiệu, gọi là "động tĩnh có cơ".
Số Tiên Thiên của bát quái
Mai Hoa đánh số tám quẻ đơn theo thứ tự Tiên Thiên (thứ tự Phục Hy), chứ không theo thứ tự Hậu Thiên hay Lạc Thư. Đây là chỗ người mới hay nhầm.
| Số | Quẻ | Tượng | Ngũ hành |
|---|---|---|---|
| 1 | Càn | Trời | Kim |
| 2 | Đoài | Đầm | Kim |
| 3 | Ly | Lửa | Hỏa |
| 4 | Chấn | Sấm | Mộc |
| 5 | Tốn | Gió | Mộc |
| 6 | Khảm | Nước | Thủy |
| 7 | Cấn | Núi | Thổ |
| 8 | Khôn | Đất | Thổ |
Câu nhớ quen thuộc: "Càn nhất, Đoài nhị, Ly tam, Chấn tứ, Tốn ngũ, Khảm lục, Cấn thất, Khôn bát". Nếu muốn xem tám quẻ này xếp trên vòng tròn ra sao, bài bát quái tiên thiên và hậu thiên có sơ đồ:
Số địa chi dùng cho năm và giờ thì đếm từ Tý: Tý 1, Sửu 2, Dần 3, Mão 4, Thìn 5, Tỵ 6, Ngọ 7, Mùi 8, Thân 9, Dậu 10, Tuất 11, Hợi 12. Xem thêm bài thiên can địa chi nếu chưa quen.
Công thức lập quẻ theo năm, tháng, ngày, giờ
Đây là phép "niên nguyệt nhật thời khởi quái", phổ biến nhất trong Mai Hoa. Mọi con số đều theo âm lịch.
- Quẻ thượng: lấy số địa chi của năm + số tháng âm + số ngày âm. Chia cho 8, lấy số dư. Số dư ứng với quẻ theo bảng Tiên Thiên. Nếu chia hết (dư 0) thì lấy 8, tức Khôn.
- Quẻ hạ: lấy tổng ở bước 1, cộng thêm số địa chi của giờ. Chia cho 8, lấy số dư, tra bảng như trên.
- Hào động: lấy chính tổng ở bước 2 (năm + tháng + ngày + giờ), chia cho 6, lấy số dư. Dư 1 là hào Sơ (dưới cùng), dư 6 hoặc chia hết là hào Thượng.
Viết gọn:
| Thành phần | Công thức | Chia hết thì |
|---|---|---|
| Quẻ thượng | (năm + tháng + ngày) chia 8, lấy dư | lấy 8 (Khôn) |
| Quẻ hạ | (năm + tháng + ngày + giờ) chia 8, lấy dư | lấy 8 (Khôn) |
| Hào động | (năm + tháng + ngày + giờ) chia 6, lấy dư | lấy 6 (hào Thượng) |
Mai Hoa luôn ra đúng một hào động. Đó là khác biệt lớn so với gieo đồng xu, nơi có thể không có hào động nào hoặc có tới sáu (xem bài cách gieo quẻ Kinh Dịch).
Những chỗ các sách làm khác nhau
- Tháng nhuận: phần đông lấy theo số của tháng chính (nhuận tháng 4 thì vẫn tính 4); một số người tính tháng nhuận là tháng kế tiếp. Không có quy tắc thống nhất trong sách gốc.
- Giờ Tý và ranh giới ngày: giờ Tý kéo dài từ 23 giờ đến 1 giờ sáng. Có người lấy 23 giờ là đã sang ngày mới, có người chờ đến 0 giờ. Hai cách cho ngày khác nhau, nên quẻ khác nhau.
- Ranh giới năm: Mai Hoa thường lấy năm âm lịch theo Tết. Một số người theo phái tiết khí lấy Lập Xuân. Nếu thời điểm rơi vào khoảng giữa Lập Xuân và Tết, hai cách cho năm khác nhau.
- Ngoài niên nguyệt nhật thời còn nhiều phép khác trong cùng sách: lập quẻ theo số chữ của câu nói, theo số tiếng động nghe được, theo số đồ vật, theo phương vị của người đến hỏi. Nguyên tắc chung là số đầu làm quẻ thượng, số sau làm quẻ hạ, tổng chia 6 ra hào động.
Thể và dụng: mình là quẻ nào?
Quẻ sáu hào gồm hai quẻ đơn. Mai Hoa phân vai cho chúng:
- Quẻ đơn có hào động là dụng: sự việc, đối tượng, hoàn cảnh bên ngoài.
- Quẻ đơn không có hào động là thể: bản thân người hỏi, chủ thể.
Vì chỉ có một hào động, việc phân vai luôn rõ ràng: hào động ở 1, 2, 3 thì quẻ hạ là dụng, quẻ thượng là thể; hào động ở 4, 5, 6 thì ngược lại.
Rồi xét ngũ hành của hai quẻ theo bảng ở trên (vòng sinh khắc xem bài âm dương ngũ hành). Năm quan hệ cơ bản, theo cách đọc truyền thống:
| Quan hệ | Ý nghĩa thường gặp |
|---|---|
| Dụng sinh thể | Tốt: việc đến giúp mình, có lợi ích tự tới |
| Thể khắc dụng | Tốt, nhưng mình phải bỏ sức mới được |
| Thể dụng tỷ hòa (cùng hành) | Tốt: thuận lợi, hòa hợp |
| Thể sinh dụng | Kém: mình hao tổn vì việc, tiền của sức lực chảy ra |
| Dụng khắc thể | Xấu: việc gây áp lực, cản trở, tổn hại mình |
Thứ tự tốt xấu giữa ba quan hệ tốt thì các sách nhấn khác nhau, nhưng hai quan hệ kém là thể sinh dụng và dụng khắc thể thì đều thống nhất. Nhiều sách còn xét thêm sức mạnh của thể theo mùa: thể là Mộc mà gặp mùa xuân thì vượng, gặp mùa thu thì suy.
Hỗ quẻ và biến quẻ: ba chặng của một việc
Từ quẻ chủ, Mai Hoa dựng thêm hai quẻ nữa:
- Hỗ quẻ: lấy hào 2, 3, 4 làm quẻ hạ, hào 3, 4, 5 làm quẻ thượng. Hỗ quẻ là phần "giữa" của quẻ, biểu thị diễn biến.
- Biến quẻ: đổi hào động từ dương sang âm hoặc ngược lại, giữ nguyên năm hào còn lại. Biến quẻ biểu thị kết cục.
Ba quẻ ứng với ba chặng: quẻ chủ là lúc đầu, hỗ quẻ là quá trình, biến quẻ là kết quả. Ở mỗi chặng, quẻ thể giữ nguyên (thể không động), còn các quẻ đơn của hỗ và biến đóng vai dụng. Người đoán xét xem thể được sinh hay bị khắc ở từng chặng để kể "câu chuyện" của sự việc.
Ví dụ tính đầy đủ: tối Trung thu năm Bính Ngọ
Giả sử có người hỏi một việc vào giờ Tuất (19–21 giờ), ngày 15 tháng 8 âm lịch năm Bính Ngọ (2026), tức đêm Trung thu.
Bước 1, lấy số:
- Năm Ngọ: 7
- Tháng 8: 8
- Ngày 15: 15
- Giờ Tuất: 11
Bước 2, quẻ thượng: 7 + 8 + 15 = 30. 30 chia 8 được 3, dư 6. Số 6 là Khảm (nước).
Bước 3, quẻ hạ: 30 + 11 = 41. 41 chia 8 được 5, dư 1. Số 1 là Càn (trời).
Bước 4, hào động: 41 chia 6 được 6, dư 5. Hào 5 động.
Nước trên trời dưới là quẻ 5 Thủy Thiên Nhu. Viết sáu hào từ dưới lên: dương, dương, dương (Càn), âm, dương, âm (Khảm).
Bước 5, hỗ quẻ: hào 2, 3, 4 là dương, dương, âm, tức Đoài; hào 3, 4, 5 là dương, âm, dương, tức Ly. Lửa trên đầm dưới là quẻ 38 Hỏa Trạch Khuê.
Bước 6, biến quẻ: hào 5 đang là dương, đổi thành âm. Quẻ thượng thành âm, âm, âm, tức Khôn. Đất trên trời dưới là quẻ 11 Địa Thiên Thái.
Ba quẻ từ trái sang: quẻ chủ Nhu, hỗ quẻ Khuê, biến quẻ Thái.
Bước 7, thể và dụng: hào động nằm ở quẻ thượng, nên Khảm là dụng, Càn là thể. Thể Càn thuộc Kim.
| Chặng | Quẻ dụng | Hành | Quan hệ với thể Càn (Kim) |
|---|---|---|---|
| Đầu (quẻ chủ) | Khảm | Thủy | Kim sinh Thủy: thể sinh dụng, hao sức |
| Giữa (hỗ quẻ) | Ly | Hỏa | Hỏa khắc Kim: dụng khắc thể, gặp trở ngại |
| Giữa (hỗ quẻ) | Đoài | Kim | Cùng Kim: tỷ hòa, có người cùng phe |
| Cuối (biến quẻ) | Khôn | Thổ | Thổ sinh Kim: dụng sinh thể, được giúp |
Đọc theo lối Mai Hoa: lúc đầu mình phải bỏ công sức nhiều (thể sinh dụng), giữa chừng gặp sức ép nhưng có người đồng hành đỡ bớt (Ly khắc, Đoài hòa), kết cục thuận lợi (Khôn sinh Càn). Ghép thêm nghĩa quẻ: Nhu là chờ đợi, Khuê là trái ý, chia lìa, Thái là thông suốt. Câu chuyện khá khớp: chờ, có lúc bất đồng, rồi thông.
Thêm một lớp: tháng 8 âm lịch là mùa thu, Kim vượng, nên thể Càn đang mạnh, chịu được hao tổn ban đầu. Đó là lối luận đầy đủ hơn mà các sách hay dùng.
Kiểm lại giai thoại hoa mai
Để chắc công thức, thử lại với giai thoại trong sách: năm Thìn, tháng 12, ngày 17, giờ Thân. (5 + 12 + 17) = 34, chia 8 dư 2: Đoài trên. 34 + 9 = 43, chia 8 dư 3: Ly dưới. 43 chia 6 dư 1: hào Sơ động. Ra quẻ 49 Trạch Hỏa Cách, biến thành quẻ 31 Trạch Sơn Hàm, hỗ quẻ là 44 Thiên Phong Cấu. Kết quả trùng với những gì sách chép, nên cách tính ở trên đúng với truyền bản.
Mai Hoa khác gieo quẻ đồng xu thế nào?
| Tiêu chí | Mai Hoa Dịch Số | Gieo ba đồng xu |
|---|---|---|
| Cách lập quẻ | Từ con số: thời gian, chữ, tiếng, vật | Tung xu sáu lần |
| Số hào động | Luôn đúng một | Từ 0 đến 6 |
| Cách đọc chính | Sinh khắc thể dụng qua ba chặng | Lời quẻ, lời hào trong Kinh Dịch |
| Cần gì | Biết ngày giờ âm lịch | Ba đồng xu |
| Lặp lại | Cùng thời điểm thì ra cùng quẻ | Mỗi lần gieo mỗi khác |
Trang gieo quẻ Kinh Dịch của Huyền hiện lập quẻ bằng ba đồng xu ảo, chưa có chức năng lập quẻ Mai Hoa. Bạn có thể tra ngày âm và giờ ở trang lịch âm, tự tính theo các bước trên, rồi đọc tên và nghĩa quẻ trên trang Kinh Dịch.
Nên hiểu Mai Hoa thế nào cho đúng mực?
Mai Hoa hấp dẫn vì gọn: không cần dụng cụ, cái gì cũng thành quẻ được. Nhưng chính vì thế mà nó phụ thuộc rất nhiều vào người đoán. Cùng một quẻ, ba chặng sinh khắc có thể kể thành nhiều câu chuyện, và người đoán giỏi là người giỏi ghép tượng quẻ với hoàn cảnh cụ thể.
Không có nghiên cứu nào cho thấy quẻ Mai Hoa dự đoán đúng hơn mức ngẫu nhiên. Giá trị thực tế, như mọi phép bói Dịch, nằm ở chỗ nó gợi một khung để suy nghĩ: mình đang bỏ sức vào đâu, trở ngại từ đâu, ai đồng hành. Bài Kinh Dịch: bói toán hay triết học bàn kỹ hơn chuyện này. Với việc sức khỏe, pháp lý, tiền bạc lớn, hãy hỏi người có chuyên môn.
Câu hỏi thường gặp
Mai Hoa Dịch Số có phải do Thiệu Khang Tiết viết không?
Theo truyền thống thì vậy, nên sách mang tên ông. Nhưng phần lớn nhà nghiên cứu cho rằng cuốn Mai Hoa Dịch Số được biên soạn muộn hơn, có lẽ đời Minh, rồi gán cho Thiệu Ung. Thiệu Ung có thật và nổi tiếng về tượng số học, nhưng không chắc ông viết cuốn này.
Lập quẻ Mai Hoa dùng lịch âm hay lịch dương?
Dùng lịch âm: năm theo địa chi, tháng và ngày âm lịch, giờ theo 12 canh giờ. Nếu dùng ngày dương lịch, quẻ sẽ khác và không còn là phép Mai Hoa truyền thống.
Chia hết thì lấy quẻ nào?
Khi tính quẻ đơn mà chia 8 hết thì lấy 8, tức quẻ Khôn. Khi tính hào động mà chia 6 hết thì lấy 6, tức hào Thượng.
Thể và dụng là gì trong Mai Hoa?
Trong hai quẻ đơn, quẻ có hào động là dụng (sự việc), quẻ không có hào động là thể (người hỏi). Đọc quẻ chủ yếu là xem dụng sinh, khắc hay hòa với thể qua quẻ chủ, hỗ quẻ và biến quẻ.
Hỗ quẻ tính thế nào?
Lấy hào 2, 3, 4 của quẻ chủ làm quẻ hạ, hào 3, 4, 5 làm quẻ thượng. Ví dụ quẻ Thủy Thiên Nhu cho hỗ quẻ là Hỏa Trạch Khuê.
Cùng một giờ hỏi hai việc có ra cùng quẻ không?
Có, nếu chỉ dùng niên nguyệt nhật thời. Vì vậy sách Mai Hoa khuyên lập quẻ khi có "động cơ", tức một dấu hiệu hay một câu hỏi thực sự, và cho phép lập theo số chữ của câu hỏi để hai việc khác nhau ra quẻ khác nhau.