Tứ Hóa phi tinh (phi hóa) là kỹ thuật lấy thiên can của từng cung trên lá số, tra bảng Tứ Hóa, rồi xem bốn hóa Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ "bay" sang những cung nào. Mỗi cung có một can, tính bằng ngũ hổ độn từ can năm sinh, nên mỗi cung phát ra bốn đường bay; cả lá số có 48 đường bay. Nếu sao bị hóa nằm ngay trong cung phát ra thì gọi là tự hóa. Đây là xương sống của phái Phi Tinh, còn gọi Tứ Hóa phái.
Bài tổng quan Tứ Hóa trong Tử Vi chỉ nhắc sơ qua phi tinh. Bài này đi sâu: can cung tính thế nào, phi Lộc phi Kỵ đọc ra sao, tự hóa ly tâm và hướng tâm, "tứ hóa liên châu" thực ra là gì, và các phái khác nhau ở đâu. Chúng tôi dùng một lá số giả định, tính bằng chính code của trang lập lá số Tử Vi, làm ví dụ xuyên suốt.
Tứ Hóa phi tinh là gì, và không phải là gì
Trên một lá số có hai loại Tứ Hóa rất khác nhau:
| Tứ Hóa sinh niên | Phi hóa (Tứ Hóa phi tinh) | |
|---|---|---|
| Lấy can nào | Can năm sinh | Can của từng cung |
| Số lượng | Một bộ bốn hóa | Mười hai bộ, 48 đường bay |
| Có ghi lên lá số không | Có, hiện thành sao Hóa Lộc, Hóa Kỵ... trong cung | Không, là quan hệ giữa hai cung |
| Ai dùng | Mọi phái | Chủ yếu phái Phi Tinh |
Một số tác giả Việt phân biệt rõ: hóa từ can năm sinh là hóa "thật", có mặt trên lá số; còn phi hóa chỉ là hướng tác động từ cung này sang cung kia, kiểu "cung A để tâm vào cung B". Cách nói này hữu ích để khỏi đọc nhầm phi hóa thành sao thật.
Ba chỗ hay nhầm khi đọc tài liệu trên mạng:
- "Phi hóa" không đồng nghĩa với "Hóa Kỵ". Nhiều bài chỉ bàn phi Kỵ nên người đọc tưởng phi hóa là Kỵ. Thực ra mỗi cung phi đủ bốn hóa; Kỵ chỉ là hóa được các phái chú ý nhiều nhất.
- "Phi tinh" trong Tử Vi khác "phi tinh" trong phong thủy Huyền Không. Bên phong thủy là cửu tinh bay theo Lạc Thư (xem Huyền Không phi tinh); bên Tử Vi là Tứ Hóa bay theo can cung. Hai thứ không liên quan.
- Ba lối đọc Tứ Hóa khác nhau: lối Tam Hợp (chủ yếu Tứ Hóa sinh niên, đại hạn, lưu niên, đọc kèm miếu hãm và tam phương tứ chính); lối Phi Tinh (phi hóa từ can mọi cung, không dùng miếu hãm); và lối Khâm Thiên Tứ Hóa, một nhánh của Phi Tinh có hệ khái niệm riêng (nói ở phần các phái).
Can cung: lấy can 12 cung bằng ngũ hổ độn
Mỗi cung đứng ở một địa chi cố định (Tý, Sửu, Dần...). Thiên can của cung được tính bằng ngũ hổ độn: từ can năm sinh suy ra can của cung Dần, rồi đếm thuận theo vòng mười can.
| Can năm sinh | Can cung Dần | Can 12 cung từ Dần đến Sửu |
|---|---|---|
| Giáp, Kỷ | Bính Dần | Bính Dần, Đinh Mão... Ất Hợi, Bính Tý, Đinh Sửu |
| Ất, Canh | Mậu Dần | Mậu Dần, Kỷ Mão... Đinh Hợi, Mậu Tý, Kỷ Sửu |
| Bính, Tân | Canh Dần | Canh Dần, Tân Mão... Kỷ Hợi, Canh Tý, Tân Sửu |
| Đinh, Nhâm | Nhâm Dần | Nhâm Dần, Quý Mão... Tân Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu |
| Mậu, Quý | Giáp Dần | Giáp Dần, Ất Mão... Quý Hợi, Giáp Tý, Ất Sửu |
Người học hay nhớ bằng câu "Giáp Kỷ khởi Bính Dần, Ất Canh khởi Mậu Dần, Bính Tân khởi Canh Dần, Đinh Nhâm khởi Nhâm Dần, Mậu Quý khởi Giáp Dần".
Ví dụ tuổi Canh: Dần là Mậu Dần, Mão Kỷ Mão, Thìn Canh Thìn, Tỵ Tân Tỵ... tới Hợi Đinh Hợi. Rồi Tý và Sửu lấy lại can của Dần và Mão: Mậu Tý, Kỷ Sửu. Lý do là vòng 12 cung bắt đầu từ Dần, đi mười cung thì hết mười can, hai cung cuối (Tý, Sửu) quay lại đầu vòng can.
Hệ quả quan trọng mà ít bài nhắc: trên mọi lá số, cung Tý và cung Dần cùng can, cung Sửu và cung Mão cùng can, nên hai cặp cung này luôn phi hóa giống hệt nhau. Thêm một chi tiết: năm Nhâm là năm duy nhất có hai cung mang đúng can năm sinh (Nhâm Dần và Nhâm Tý).
Trang này có tính can cung: trong code, mỗi cung lưu can theo đúng công thức ngũ hổ độn ở trên, và lá số hiện can chi của từng cung (ví dụ "Mậu Dần"). Ngũ hổ độn cũng chính là bước dùng để tìm cục ngũ hành từ can chi cung Mệnh.
Phi Lộc, phi Kỵ: hóa xuất, hóa nhập, Lộc nhập – Kỵ xung
Cách phi rất máy móc. Lấy cung A, đọc can của A, tra bảng Tứ Hóa các can, được bốn sao. Sao nào đang ở cung B thì nói "A phi hóa đó nhập B".
Phái Phi Tinh dùng vài khái niệm cơ bản, phần lớn được các nhánh dùng chung:
- Hóa nhập: cung A phi hóa vào một cung khác. Thường đọc là A hướng sự quan tâm, nguồn lực (Lộc), sự kiểm soát (Quyền), danh tiếng (Khoa), hay sự vướng bận (Kỵ) vào B.
- Hóa xuất: nhiều tài liệu dùng riêng cho trường hợp một cung phi hóa vào các cung "bên ngoài" của mình. Định nghĩa cụ thể cung nào là "ngoài" thì mỗi nhánh một khác.
- Lộc nhập: Lộc rơi vào cung nào thì cung đó được thêm. Đọc giản dị là "A cho B".
- Kỵ nhập và Kỵ xung: Kỵ rơi vào cung B thì đồng thời xung cung đối diện B. Nhiều tài liệu Phi Tinh coi Kỵ xung là thế động mạnh, nặng hơn Kỵ nhập: nhập là "giữ", xung là "phá". Ví dụ Mệnh phi Kỵ nhập Phu Thê thì xung Quan Lộc.
Một câu hay gặp trong tài liệu Phi Tinh là "Lộc tùy Kỵ tẩu" (Lộc đi theo Kỵ): muốn biết cái lộc rốt cuộc về đâu, hãy xem cung nhận Lộc lại phi Kỵ đi đâu. Đây là quy ước của phái, không phải quy luật chung của Tử Vi.
Ý nghĩa của mỗi đường bay còn phụ thuộc cung phát và cung nhận. Muốn hiểu bản chất từng hóa, xem các bài Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa và Hóa Kỵ.
Tự hóa: ly tâm và hướng tâm
Tự hóa là khi can của cung A hóa đúng một sao đang nằm trong chính cung A. Đây là thứ phái Phi Tinh xem đầu tiên trên lá số.
Cách gọi chung nhất là tự hóa ly tâm: hóa sinh ra rồi "thoát ra ngoài" ngay tại chỗ. Cách đọc thường gặp:
| Tự hóa | Cách đọc thường gặp |
|---|---|
| Tự hóa Lộc | Có nguồn lực tự sinh nhưng tiêu ngay, khó tích lũy; dễ dãi, rộng rãi ở mặt cung đó |
| Tự hóa Quyền | Tự mình muốn kiểm soát mặt đó, tự tạo áp lực |
| Tự hóa Khoa | Coi trọng thể diện ở mặt đó, chuyện thường có lối ra êm |
| Tự hóa Kỵ | Tự sinh vướng bận rồi tự gánh; đến nhanh, đi nhanh, khó giữ |
Tự hóa hướng tâm thì các tài liệu không định nghĩa thống nhất. Có hai cách hiểu chính: (1) can của cung A hóa một sao ở cung đối diện, lực từ đối cung "chiếu ngược" về A; (2) can của cung đối diện hóa một sao ở A, tức A nhận hóa từ đối cung. Khi đọc bài nào dùng chữ "hướng tâm", hãy xem tác giả theo cách nào. Trang này chỉ tính tự hóa theo nghĩa thông thường (ly tâm).
Tứ hóa liên hoàn và chuyện "tứ hóa liên châu"
Người tra "tứ hóa liên châu" thường gặp hai khái niệm khác nhau bị trộn vào nhau:
Tam Hóa Liên Châu là thuật ngữ quen thuộc của sách Việt, thuộc lớp sinh niên, không phải phi tinh. Cách hiểu phổ biến nhất là Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa nằm ở ba cung liền nhau như chuỗi hạt; có tài liệu nới ra thành ba hóa hội trong tam hợp. Trên diễn đàn, người ta đôi khi gọi "tứ hóa liên châu" khi cả bốn hóa (tính cả Kỵ) nằm liền nhau, nhưng nhiều người trả lời rằng thế này ít ý nghĩa, vì Kỵ không được tính như ba cát hóa. Nói gọn: "tứ hóa liên châu" không phải thuật ngữ có định nghĩa ổn định; nếu ai dùng, hãy hỏi họ đang nói Tam Hóa Liên Châu hay bốn hóa liền cung. Theo code của trang, cả bốn hóa sinh niên liền bốn cung chỉ xảy ra với tuổi Mậu, Kỷ, Tân (dưới 6% lá số mỗi tuổi); còn Lộc – Quyền – Khoa liền ba cung hay gặp nhất ở tuổi Ất, Mậu, Canh (khoảng 16–17%). Chi tiết từng can ở bài Tứ Hóa các can.
Tứ hóa liên hoàn thì đúng là kỹ thuật phi tinh: nối các đường bay thành chuỗi. Cung A phi Kỵ vào B, can của B lại phi Kỵ vào C, cứ thế cho tới khi quay về một cung đã qua (thành vòng khép kín) hoặc dừng ở một cung tự hóa. Ngoài chuỗi còn hai thế hay đọc:
- Lộc Kỵ giao trì: A phi Lộc sang B trong khi B phi Kỵ về A; được và mất buộc vào nhau.
- Tụ điểm: nhiều cung cùng phi một hóa vào một cung, ví dụ ba cung cùng phi Kỵ vào Tài Bạch.
Cần biết: khi quét 768 lá số, trang ghi nhận khoảng 76% có Lộc Kỵ giao trì và 81% có tụ điểm. Đây là thế phổ biến, không phải dấu hiệu hiếm.
Các phái phi tinh: nói đúng mức
Phái Phi Tinh phát triển chủ yếu ở Đài Loan nửa sau thế kỷ 20 và có nhiều nhánh. Ở mức khái quát:
- Phi Tinh, Tứ Hóa phái nói chung (trong tài liệu tiếng Trung hay gọi Bắc phái, gắn với các dòng như Hà Lạc): dùng ít phụ tinh, không dùng miếu hãm, đọc lá số qua phi hóa, tự hóa, chuỗi liên hoàn và phép "cung chồng cung" (ví dụ coi Phúc Đức là cung Thiên Di của Tài Bạch).
- Khâm Thiên Môn (Khâm Thiên Tứ Hóa): một nhánh có hệ khái niệm riêng. Khái niệm hay được nhắc nhất là Lai Nhân cung, tức cung mang can trùng can năm sinh, được coi là "gốc" của đời người. Ví dụ tuổi Canh thì Lai Nhân cung là cung Thìn (Canh Thìn). Cách xử lý năm Nhâm (có hai cung can Nhâm) và nhiều chi tiết khác, chúng tôi chưa đối chiếu được một nguồn thống nhất.
- Trung Châu phái (dòng Vương Đình Chi): dùng Tứ Hóa sinh niên, đại hạn, lưu niên chồng lên nhau, đọc theo tính chất sao; theo những gì thường được mô tả, phái này không lấy phi hóa can cung làm trục chính.
- Tam Hợp phái và dòng Việt: chủ yếu Tứ Hóa sinh niên, đại hạn, lưu niên; phi hóa không phải công cụ chính.
Quan trọng nhất: bảng Tứ Hóa và cách tính can cung là chung, nhưng cách đọc đường bay mỗi nhánh một quy ước. Hai thầy cùng phái Phi Tinh vẫn có thể đọc một chuỗi Kỵ theo hai cách. Bối cảnh các phái xem bài các trường phái Tử Vi.
Ví dụ: phi hóa trên một lá số giả định
Lá số giả định: nam, sinh 15/3/1990 dương lịch giờ Tỵ, tức ngày 19 tháng 2 năm Canh Ngọ. Code của trang cho: Thổ Ngũ Cục, Mệnh tại Tuất (can Bính, Phá Quân), Tứ Hóa sinh niên: Thái Dương Lộc và Thái Âm Khoa ở Điền Trạch (Sửu), Vũ Khúc Quyền ở Phúc Đức (Tý), Thiên Đồng Kỵ ở Phụ Mẫu (Hợi).
Phi hóa từ cung Mệnh (Bính Tuất):
| Hóa | Sao | Nhập cung |
|---|---|---|
| Lộc | Thiên Đồng | Phụ Mẫu (Hợi) |
| Quyền | Thiên Cơ | Nô Bộc (Mão) |
| Khoa | Văn Xương | Tật Ách (Tỵ) |
| Kỵ | Liêm Trinh | Phu Thê (Thân), xung Quan Lộc (Dần) |
Tự hóa: Quan Lộc (Mậu Dần) tự hóa Lộc ở Tham Lang; Phu Thê (Giáp Thân) tự hóa Lộc ở Liêm Trinh; Phụ Mẫu (Đinh Hợi) tự hóa Quyền ở Thiên Đồng; Tật Ách (Tân Tỵ) tự hóa Kỵ ở Văn Xương.
Chuỗi Kỵ từ Mệnh: Mệnh → Phu Thê (Giáp, Kỵ Thái Dương) → Điền Trạch (Kỷ, Kỵ Văn Khúc) → Huynh Đệ (Ất, Kỵ Thái Âm) → quay lại Điền Trạch. Chuỗi khép thành vòng Điền Trạch – Huynh Đệ.
Tụ điểm Kỵ: Nô Bộc nhận Kỵ từ ba cung Phúc Đức, Quan Lộc, Phụ Mẫu. Để ý Phúc Đức (Mậu Tý) và Quan Lộc (Mậu Dần) cùng can, nên hai đường bay đó thực chất là một, đúng như hệ quả Tý – Dần cùng can nói ở trên.
Một người đọc theo phái Phi Tinh có thể nói: Mệnh phi Lộc vào Phụ Mẫu, đúng nơi có Hóa Kỵ sinh niên, nên là người dồn sức gỡ chuyện ở cung đó; Mệnh phi Kỵ vào Phu Thê, xung Quan Lộc, nên việc nhà và việc làm kéo nhau. Nhưng một nhánh khác có thể nhấn vào vòng Kỵ Điền Trạch – Huynh Đệ. Chúng tôi đưa ví dụ để thấy dữ liệu đường bay được tính thế nào; diễn giải là quy ước của từng nhánh, không phải kết luận về người này.
Dùng phi tinh cho tỉnh táo
Phi tinh có điểm mạnh là quy tắc rõ, tính được bằng máy. Nhưng có ba giới hạn nên biết:
- Quá nhiều dữ liệu: 48 đường bay, cộng tự hóa, chuỗi, giao trì, tụ điểm; gần như lá số nào cũng có vài thế "đáng nói". Càng nhiều chỗ để chọn thì càng dễ chọn chỗ hợp với điều mình đã nghĩ sẵn.
- Cặp cung trùng can: Tý – Dần và Sửu – Mão luôn phi giống nhau, nên nhiều tín hiệu thực ra bị đếm hai lần.
- Quy ước đọc khác nhau giữa các nhánh, và chưa có kiểm chứng có đối chứng nào cho thấy nhánh nào dự đoán tốt hơn.
Trên trang lập lá số Tử Vi, mở "Lớp luận nâng cao" rồi chọn "Tứ Hóa phái · phi tinh" để xem đủ 48 đường bay, các chỗ tự hóa, chuỗi liên hoàn của lá số bạn. Trang chỉ cung cấp dữ liệu, không áp một cách đọc duy nhất. Muốn xem phi tinh chồng với vận năm, đọc tiếp bài Tứ Hóa lưu niên.
Câu hỏi thường gặp
Tứ Hóa phi tinh khác Tứ Hóa năm sinh thế nào?
Tứ Hóa năm sinh lấy can năm sinh, cho đúng một bộ bốn hóa ghi lên lá số. Phi tinh lấy can của từng cung, mỗi cung phát bốn hóa bay sang cung khác, tổng cộng 48 đường bay. Phi hóa là quan hệ giữa hai cung, không phải sao thật nằm trong cung.
Can cung trong Tử Vi tính thế nào?
Dùng ngũ hổ độn: Giáp Kỷ khởi Bính Dần, Ất Canh khởi Mậu Dần, Bính Tân khởi Canh Dần, Đinh Nhâm khởi Nhâm Dần, Mậu Quý khởi Giáp Dần. Từ Dần đếm thuận mười can tới Hợi, rồi Tý và Sửu lấy lại can của Dần và Mão.
Tự hóa là gì?
Là khi can của một cung hóa đúng sao nằm trong chính cung đó. Tự hóa Lộc thường đọc là có mà khó giữ, tự hóa Kỵ là tự sinh vướng bận rồi tự gánh. "Tự hóa hướng tâm" thì các tài liệu định nghĩa không thống nhất.
Tứ hóa liên châu là gì?
Không phải thuật ngữ có định nghĩa ổn định. Thường người ta muốn nói Tam Hóa Liên Châu, tức Lộc, Quyền, Khoa ở ba cung liền nhau trên lớp sinh niên. Đôi khi "tứ hóa liên châu" được dùng cho cả bốn hóa liền cung, nhưng nhiều người cho thế đó ít ý nghĩa. Nó cũng khác "tứ hóa liên hoàn", là chuỗi phi hóa nối tiếp.
Kỵ xung là gì?
Khi Hóa Kỵ (sinh niên hoặc phi hóa) nhập một cung thì nó đồng thời xung cung đối diện. Nhiều tài liệu Phi Tinh coi Kỵ xung là thế động mạnh, nặng hơn Kỵ nhập. Ví dụ Kỵ nhập Phu Thê thì xung Quan Lộc.
Người mới có nên học phi tinh ngay không?
Phần lớn người dạy khuyên học chắc 14 chính tinh và Tứ Hóa sinh niên trước, rồi mới học phi tinh. Phi tinh đòi hỏi thuộc bảng Tứ Hóa, quen 12 cung và chấp nhận rằng mỗi nhánh có quy ước đọc riêng.