Huyền Không trạch vận là phép lập "tinh bàn" (bản đồ sao) cho một căn nhà dựa trên hai dữ kiện: nhà thuộc vận nào (theo thời điểm xây xong) và nhà tọa sơn nào, hướng sơn nào trong 24 sơn. Tinh bàn gồm ba lớp số trong chín cung: vận tinh, sơn tinh (sao núi, chủ người) và hướng tinh (sao nước, chủ của cải). Lập đúng cần ba bước: đặt vận bàn, tìm chiều bay của sơn tinh và hướng tinh theo âm dương nguyên long, rồi đọc cách cục.
Bài Huyền Không Phi Tinh và Vận 9 đã giới thiệu Lạc Thư, cửu tinh và đường bay. Bài này đi tiếp phần kỹ thuật: lập tinh bàn từng bước, quy tắc số 5, bốn cách cục, thế quái và các ví dụ. Mọi tinh bàn trong bài được tính bằng chương trình và đối chiếu với tinh bàn đã công bố.
Bước 0: xác định vận của nhà và hướng nhà
Vận của nhà (trạch vận) thường lấy theo thời điểm nhà hoàn thành, nhiều thầy lấy mốc đổ mái hoặc lợp mái. Nhà xây xong từ Lập Xuân 2024 đến trước Lập Xuân 2044 là nhà Vận 9; xây trong 2004–2023 là nhà Vận 8. Các phái khác nhau ở mấy điểm:
- Có phái lấy ngày nhập trạch (dọn vào ở).
- Sửa lớn (thay mái, mở thông giữa nhà, làm lại cửa chính) thì nhiều thầy cho là nhà đổi sang vận mới ("hoán thiên tâm"); sửa đến mức nào thì đủ vẫn còn bàn cãi.
- Với chung cư, có người lấy vận của cả tòa, có người lấy vận của căn hộ; đo hướng ở cửa tòa nhà hay ở mặt thoáng căn hộ cũng mỗi phái một ý.
Hướng nhà đo bằng la bàn, đứng trong nhà nhìn ra mặt tiền. Phía sau lưng là tọa, phía trước là hướng. Kết quả phải đọc tới đơn vị sơn (15°), không chỉ 8 hướng.
24 sơn và âm dương nguyên long
Vòng la bàn chia thành 24 sơn, mỗi cung bát quái 45° gồm 3 sơn, lần lượt gọi là địa nguyên, thiên nguyên, nhân nguyên. Mỗi sơn mang một dấu âm dương riêng của Huyền Không (gọi là âm dương nguyên long, khác với âm dương ngũ hành của can chi). Quy luật: bốn cung chính (Khảm, Chấn, Ly, Đoài) theo mẫu + − −; bốn cung góc (Cấn, Tốn, Khôn, Càn) theo mẫu − + +.
| Cung | Địa nguyên | Thiên nguyên | Nhân nguyên |
|---|---|---|---|
| Bắc (Khảm 1) | Nhâm 337,5–352,5° (+) | Tý 352,5–7,5° (−) | Quý 7,5–22,5° (−) |
| Đông Bắc (Cấn 8) | Sửu 22,5–37,5° (−) | Cấn 37,5–52,5° (+) | Dần 52,5–67,5° (+) |
| Đông (Chấn 3) | Giáp 67,5–82,5° (+) | Mão 82,5–97,5° (−) | Ất 97,5–112,5° (−) |
| Đông Nam (Tốn 4) | Thìn 112,5–127,5° (−) | Tốn 127,5–142,5° (+) | Tỵ 142,5–157,5° (+) |
| Nam (Ly 9) | Bính 157,5–172,5° (+) | Ngọ 172,5–187,5° (−) | Đinh 187,5–202,5° (−) |
| Tây Nam (Khôn 2) | Mùi 202,5–217,5° (−) | Khôn 217,5–232,5° (+) | Thân 232,5–247,5° (+) |
| Tây (Đoài 7) | Canh 247,5–262,5° (+) | Dậu 262,5–277,5° (−) | Tân 277,5–292,5° (−) |
| Tây Bắc (Càn 6) | Tuất 292,5–307,5° (−) | Càn 307,5–322,5° (+) | Hợi 322,5–337,5° (+) |
Sơn đối diện luôn cùng nguyên: Tý đối Ngọ (đều thiên nguyên), Nhâm đối Bính (đều địa nguyên). Bảng dấu này là chỗ dễ sai nhất: sai một dấu là sai nửa tinh bàn.
Lập tinh bàn: vận bàn, sơn tinh, hướng tinh
Bước 1: vận bàn
Đặt số vận vào trung cung rồi bay thuận theo đường Lạc Thư: Trung cung → Tây Bắc → Tây → Đông Bắc → Nam → Bắc → Tây Nam → Đông → Đông Nam. Vận 9:
| Đông Nam: 8 | Nam: 4 | Tây Nam: 6 |
|---|---|---|
| Đông: 7 | Trung cung: 9 | Tây: 2 |
| Đông Bắc: 3 | Bắc: 5 | Tây Bắc: 1 |
Mẹo tính nhanh: số ở một cung = số trung cung + (số gốc Lạc Thư của cung − 5), quá 9 thì trừ 9, dưới 1 thì cộng 9. Ví dụ cung Nam (gốc 9) trong Vận 9: 9 + 4 = 13, trừ 9 còn 4.
Bước 2: sơn tinh và hướng tinh
- Lấy số vận bàn ở cung tọa đưa vào trung cung làm sơn tinh; lấy số ở cung hướng đưa vào trung cung làm hướng tinh.
- Mỗi số ấy có một cung gốc trong Lạc Thư (số 4 là cung Tốn, số 2 là cung Khôn...). Trong cung gốc đó, chọn sơn cùng nguyên với sơn tọa (hoặc sơn hướng) của nhà.
- Sơn được chọn mang dấu + thì bay thuận (số tăng dần theo đường bay), dấu − thì bay nghịch (số giảm dần).
Ví dụ: nhà Vận 9, tọa Tý hướng Ngọ (lưng Bắc, mặt Nam, độ hướng quanh 180°):
- Cung tọa (Bắc) có vận tinh 5; cung hướng (Nam) có vận tinh 4.
- Hướng tinh: số 4 thuộc cung Tốn. Sơn hướng là Ngọ, thiên nguyên, nên lấy sơn thiên nguyên của cung Tốn là Tốn (+). Hướng tinh 4 vào trung cung, bay thuận.
- Sơn tinh: số 5 không có cung gốc, phải dùng quy tắc riêng ở mục sau. Kết quả: lấy dấu của Ngọ (−), sơn tinh 5 vào trung cung, bay nghịch.
Tinh bàn (mỗi ô ghi sơn tinh – hướng tinh (vận tinh)):
| Đông Nam: 6 – 3 (8) | Nam: 1 – 8 (4) | Tây Nam: 8 – 1 (6) |
|---|---|---|
| Đông: 7 – 2 (7) | Trung: 5 – 4 (9) | Tây: 3 – 6 (2) |
| Đông Bắc: 2 – 7 (3) | Bắc: 9 – 9 (5) | Tây Bắc: 4 – 5 (1) |
Cả sơn tinh 9 lẫn hướng tinh 9 đều về cung tọa (Bắc): đây là cách song tinh đáo tọa.
Quy tắc khi số 5 rơi vào cung tọa hay cung hướng
Số 5 nằm ở trung cung Lạc Thư nên không có cung gốc để tra dấu. Phép thông dụng (theo Thẩm Thị Huyền Không Học) là mượn cung của vận tinh: trong Vận 9, số 5 mượn cung Ly (số 9), rồi chọn sơn cùng nguyên trong cung Ly. Nhà tọa Tý (thiên nguyên) thì lấy Ngọ (−), nên bay nghịch; nhà tọa Nhâm (địa nguyên) thì lấy Bính (+), nên bay thuận.
Có sách diễn đạt khác: số 5 lấy dấu của chính sơn tọa (hay sơn hướng) của nhà. Hai cách luôn cho cùng kết quả, vì trong vận v, số 5 bao giờ cũng rơi vào cung đối diện cung gốc của v (Vận 9 thì 5 ở Bắc, đối diện Ly), mà hai cung đối nhau luôn cùng mẫu dấu. Còn quan niệm "số 5 lúc nào cũng bay thuận" thì sai.
Khi số 5 nhập trung mà bay thuận, cả lớp sao trùng hệt Lạc Thư gốc: gọi là phục ngâm. Bay nghịch thì mỗi cung nhận số đối nghịch với số gốc: gọi là phản ngâm. Sách xưa coi cả hai là điều kỵ, nhưng mức nặng nhẹ thì các thầy đánh giá khác nhau. Trong Vận 9, chỉ những nhà trục Bắc–Nam mới gặp: tọa Nhâm (hay hướng Nhâm) thì phục ngâm, tọa Tý, Quý (hay hướng Tý, Quý) thì phản ngâm. Nhiều tác giả cảnh báo nặng nhất với cặp Nhâm–Bính.
Bốn cách cục cơ bản
Sau khi có tinh bàn, xem sao đương vận (Vận 9 là số 9) của hai lớp sơn tinh và hướng tinh nằm ở đâu:
| Cách cục | Sơn tinh vượng ở | Hướng tinh vượng ở | Cách đọc truyền thống | Loan đầu phù hợp |
|---|---|---|---|---|
| Vượng sơn vượng hướng | Tọa | Hướng | Tốt nhất: người và của đều thuận | Sau có thế tựa, trước thoáng hoặc có nước |
| Song tinh đáo hướng | Hướng | Hướng | Lợi của, người kém hơn | Trước có nước, xa hơn có gò cao |
| Song tinh đáo tọa | Tọa | Tọa | Lợi người, của kém hơn | Sau có chỗ trống hoặc nước, xa hơn có núi |
| Thượng sơn hạ thủy | Hướng | Tọa | Kém nhất: "núi xuống nước, nước lên núi" | Trước cao, sau thấp có nước thì cứu được phần nào |
Cột cuối quan trọng: Huyền Không luôn đọc tinh bàn cùng với hình thế thật (xem bài Loan Đầu và Lý Khí). Nhà song tinh đáo tọa mà sau lưng là sân rộng, hồ nước thì sách coi là đắc cục.
Một điều ít người nói: trong Vận 9 (cũng như Vận 1), không có hướng nào ra vượng sơn vượng hướng hay thượng sơn hạ thủy theo hạ quái. Chương trình của chúng tôi chạy đủ 24 sơn cho kết quả: 12 sơn song tinh đáo hướng, 12 sơn song tinh đáo tọa. Điều này khớp với các bảng tổng hợp Vận 9 đã công bố bằng tiếng Trung.
| Vận 9: song tinh đáo hướng (tọa) | Vận 9: song tinh đáo tọa (tọa) |
|---|---|
| Nhâm, Sửu, Giáp, Tốn, Tỵ, Ngọ, Đinh, Khôn, Thân, Dậu, Tân, Tuất | Tý, Quý, Cấn, Dần, Mão, Ất, Thìn, Bính, Mùi, Canh, Càn, Hợi |
Nên quảng cáo "nhà Vận 9 vượng sơn vượng hướng" theo tinh bàn chính là đáng ngờ. Để so sánh, trong Vận 8 có đủ bốn cách, mỗi cách 6 sơn; vượng sơn vượng hướng là các nhà tọa Sửu, Mùi, Tốn, Tỵ, Càn, Hợi.
Ví dụ tinh bàn Vận 9 và Vận 8
Vận 9, tọa Mão hướng Dậu (lưng Đông, mặt Tây). Sơn tinh 7 nghịch (Dậu −), hướng tinh 2 thuận (Khôn +). Song tinh đáo tọa. Tinh bàn này trùng khớp với tinh bàn công bố trong loạt bài phân tích 24 sơn Vận 9 của Trung tâm Nghiên cứu Phong thủy Mệnh lý Quốc tế Canada (cafengshuinet):
| Đông Nam: 8 – 1 (8) | Nam: 3 – 6 (4) | Tây Nam: 1 – 8 (6) |
|---|---|---|
| Đông: 9 – 9 (7) | Trung: 7 – 2 (9) | Tây: 5 – 4 (2) |
| Đông Bắc: 4 – 5 (3) | Bắc: 2 – 7 (5) | Tây Bắc: 6 – 3 (1) |
Vận 9, tọa Tốn hướng Càn (lưng Đông Nam, mặt Tây Bắc). Sơn tinh 8 thuận, hướng tinh 1 nghịch. Song tinh đáo hướng; ngoài ra ở mọi cung, hướng tinh cộng vận tinh đều bằng 10, gọi là hợp thập, được nhiều sách coi là cách tốt bù đắp. (Hai cách cục phụ khác hay được nhắc là liên châu tam ban quái và phụ mẫu tam ban quái, đều hiếm.)
| Đông Nam: 7 – 2 (8) | Nam: 3 – 6 (4) | Tây Nam: 5 – 4 (6) |
|---|---|---|
| Đông: 6 – 3 (7) | Trung: 8 – 1 (9) | Tây: 1 – 8 (2) |
| Đông Bắc: 2 – 7 (3) | Bắc: 4 – 5 (5) | Tây Bắc: 9 – 9 (1) |
Vận 8, tọa Mùi hướng Sửu: ví dụ vượng sơn vượng hướng. Sơn tinh 8 về tọa (Tây Nam), hướng tinh 8 về hướng (Đông Bắc). Nhà này xây trong 2004–2023 thì vẫn giữ tinh bàn Vận 8, kể cả khi đã sang Vận 9, cho đến khi sửa lớn:
| Đông Nam: 6 – 3 (7) | Nam: 1 – 7 (3) | Tây Nam: 8 – 5 (5) |
|---|---|---|
| Đông: 7 – 4 (6) | Trung: 5 – 2 (8) | Tây: 3 – 9 (1) |
| Đông Bắc: 2 – 8 (2) | Bắc: 9 – 6 (4) | Tây Bắc: 4 – 1 (9) |
Vận 8, tọa Cấn hướng Khôn: ví dụ thượng sơn hạ thủy, ngược hẳn nhà bên trên. Sơn tinh 8 chạy ra hướng (Tây Nam), hướng tinh 8 chạy về tọa (Đông Bắc), lớp hướng tinh lại phục ngâm:
| Đông Nam: 1 – 4 (7) | Nam: 6 – 9 (3) | Tây Nam: 8 – 2 (5) |
|---|---|---|
| Đông: 9 – 3 (6) | Trung: 2 – 5 (8) | Tây: 4 – 7 (1) |
| Đông Bắc: 5 – 8 (2) | Bắc: 7 – 1 (4) | Tây Bắc: 3 – 6 (9) |
Nhà tọa Mùi và nhà tọa Khôn chỉ lệch nhau 15°; ở Vận 8, tọa Khôn cũng là thượng sơn hạ thủy như tọa Cấn, trái ngược tọa Mùi. Đo hướng phải chính xác là vì vậy.
Kiêm hướng và thế quái: chỗ các phái khác nhau nhiều nhất
Mỗi sơn rộng 15°. Nếu hướng nhà nằm gần giữa sơn, dùng tinh bàn vừa lập, gọi là hạ quái (下卦). Nếu hướng lệch về phía ranh giới với sơn bên cạnh, gọi là kiêm hướng (ví dụ "Tý kiêm Quý"), nhiều phái dùng thế quái (替卦, quẻ thay thế): thay số nhập trung bằng một "thế tinh" theo khẩu quyết:
Tý Quý tịnh Giáp Thân, Tham Lang nhất lộ hành; Nhâm Mão Ất Mùi Khôn, ngũ vị vi Cự Môn; Càn Hợi Thìn Tốn Tỵ, liên Tuất Vũ Khúc danh; Dậu Tân Sửu Cấn Bính, tinh tinh thị Phá Quân; Dần Ngọ Canh Đinh thượng, Hữu Bật tứ tinh lâm.
Tức là: sơn Tý, Quý, Giáp, Thân thay bằng 1; Nhâm, Mão, Ất, Mùi, Khôn thay bằng 2; Càn, Hợi, Thìn, Tốn, Tỵ, Tuất thay bằng 6; Dậu, Tân, Sửu, Cấn, Bính thay bằng 7; Dần, Ngọ, Canh, Đinh thay bằng 9. Cách làm: ở bước 2, sau khi tìm được sơn tham chiếu trong cung gốc, thay số nhập trung bằng thế tinh của sơn đó, còn chiều bay vẫn theo dấu của sơn ấy.
Ví dụ: Vận 9, tọa Tý hướng Ngọ dùng thế quái. Hướng tinh: số 4, sơn tham chiếu Tốn, thế tinh của Tốn là 6, nên 6 nhập trung bay thuận (thay vì 4). Sơn tinh: số 5 giữ nguyên (đa số cách tính không thay thế cho số 5), 5 bay nghịch:
| Đông Nam: 6 – 5 (8) | Nam: 1 – 1 (4) | Tây Nam: 8 – 3 (6) |
|---|---|---|
| Đông: 7 – 4 (7) | Trung: 5 – 6 (9) | Tây: 3 – 8 (2) |
| Đông Bắc: 2 – 9 (3) | Bắc: 9 – 2 (5) | Tây Bắc: 4 – 7 (1) |
Tinh bàn này khớp từng cung với tinh bàn "Tý sơn Ngọ hướng, Quý sơn Đinh hướng (thế quái)" mà cùng loạt bài trên công bố. So với hạ quái, sơn tinh 9 vẫn ở tọa nhưng hướng tinh 9 chạy sang Đông Bắc: cách cục đổi hẳn. Còn với nhà tọa Mão, thế tinh của Dậu là 7 và của Khôn là 2, trùng số cũ, nên thế quái giống hệt hạ quái (cũng khớp với nguồn đối chiếu).
Những chỗ các phái chưa thống nhất:
- Ngưỡng kiêm: có phái dùng thế quái khi lệch khỏi giữa sơn quá 3°, phái khác lấy 4,5°, tức là chỉ khi hướng nằm trong khoảng 3° sát ranh giới.
- Số 5: đa số giữ nguyên 5; một số tác giả có cách thay riêng.
- Có dùng thế quái hay không: vài dòng phái không dùng khẩu quyết trên mà có cách xử lý kiêm hướng khác.
- Ranh giới: hướng nằm sát ranh giới hai sơn (nhất là ranh giới hai quẻ, như giữa Quý và Sửu) bị gọi là "không vong", nhiều thầy khuyên tránh hẳn, không lập tinh bàn.
Khi so tinh bàn giữa hai nguồn, hãy hỏi trước: hạ quái hay thế quái, ngưỡng kiêm bao nhiêu độ.
Dùng tinh bàn thế nào cho tỉnh táo?
Cùng đầu vào thì ai tính đúng cũng ra cùng tinh bàn. Nhưng tính đúng không có nghĩa là ứng nghiệm. Chưa có nghiên cứu nào kiểm chứng rằng nhà vượng sơn vượng hướng có người ở khỏe hơn hay giàu hơn (bài phong thủy có khoa học không bàn kỹ chuyện này).
Hãy dùng tinh bàn như một cách đọc ngôi nhà, đặt cạnh nhu cầu thật về ánh sáng, gió, lối đi; đừng sửa nhà hay mua vật phẩm chỉ vì một con số. Muốn tra nhanh thì dùng công cụ Huyền Không của trang: nó lập hạ quái đủ 24 sơn (đã đối chiếu 48 tinh bàn vận 8, 9 với bảng công bố) và cảnh báo khi hướng sát ranh giới cần thế quái — phần thế quái công cụ chưa tính. Dùng ứng dụng nào cũng nên để ý nó lập hạ quái hay thế quái. Quyết định lớn về nhà cửa thì hỏi kiến trúc sư, kỹ sư xây dựng.
Câu hỏi thường gặp
Trạch vận của nhà tính theo năm xây hay năm dọn vào?
Phổ biến nhất là theo lúc nhà hoàn thành (đổ mái, lợp mái); một số phái lấy ngày nhập trạch. Sửa lớn thì nhiều thầy cho là đổi sang vận mới.
Sơn tinh và hướng tinh khác nhau thế nào?
Sơn tinh (sao núi) lấy từ vận tinh ở cung tọa, chủ về người, sức khỏe. Hướng tinh (sao nước) lấy từ vận tinh ở cung hướng, chủ về tiền tài. Mỗi lớp bay thuận hay nghịch tùy âm dương nguyên long.
Nhà Vận 9 có hướng nào vượng sơn vượng hướng không?
Theo tinh bàn chính (hạ quái) thì không: 12 sơn song tinh đáo hướng, 12 sơn song tinh đáo tọa. Chỉ nhà kiêm hướng dùng thế quái mới có thể khác.
Khi số 5 rơi vào cung tọa thì bay thuận hay nghịch?
Số 5 mượn cung của vận tinh (Vận 9 mượn cung Ly) rồi lấy dấu sơn cùng nguyên, tương đương lấy dấu chính sơn tọa. Vận 9, nhà tọa Tý thì 5 bay nghịch, tọa Nhâm thì bay thuận.
Thế quái dùng khi nào?
Khi hướng nhà lệch về phía sơn bên cạnh (kiêm hướng), quá 3° hoặc 4,5° so với giữa sơn tùy phái. Số nhập trung được thay bằng thế tinh theo khẩu quyết "Tý Quý tịnh Giáp Thân, Tham Lang nhất lộ hành...".
Nhà Vận 8 sang Vận 9 có phải lập lại tinh bàn không?
Không. Nhà giữ tinh bàn của vận lúc xây xong cho đến khi sửa lớn. Nhưng sao vượng đổi: sang Vận 9, sao 9 là vượng, sao 8 thành thoái khí, nên cách đọc tinh bàn cũ thay đổi.