Lộc Tồn là sao "kho lộc" của Tử Vi: an theo thiên can năm sinh, chỉ đóng ở tám cung (không bao giờ ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi), và luôn có Kình Dương đứng ngay sau, Đà La đứng ngay trước. Lộc Tồn chủ về của để dành, sự ổn định và tính giữ gìn. Nó khác Hóa Lộc ở chỗ có vị trí riêng chứ không bám vào chính tinh nào, và ở chỗ đi đâu cũng mang theo hai "người gác cổng" sắc nhọn.
Bài này đi sâu hơn phần Lộc Tồn trong bài lục cát lục sát: bảng an, hệ quả hình học của thế bị kẹp, so với Hóa Lộc, song Lộc, Lộc Mã, Lộc Tồn ở từng cung và khi gặp Không Kiếp. Mọi bảng và tỉ lệ đều chạy từ code của trang lập lá số Tử Vi, trên hơn một trăm nghìn lá số sinh từ năm 1950 đến 2009.
Sao Lộc Tồn là gì
Chữ lộc (祿) là bổng lộc, tồn (存) là còn, giữ lại. Ghép lại là "lộc được giữ". Trong hệ sao Bắc Đẩu, Lộc Tồn là ngôi thứ ba của Bắc Đẩu thất tinh, hành Thổ, sách Việt xếp vào nhóm cát tinh (có sách đưa hẳn vào "lục cát" thay cho một cặp khác).
Ba nét tính chất mà các sách thống nhất:
- Tích lũy hơn là kiếm nhanh. Lộc Tồn là của để dành, tiền lương đều, tài sản giữ được lâu.
- Thận trọng, giữ mình. Người có Lộc Tồn ở Mệnh hay được tả là cẩn thận, tiết kiệm, không thích mạo hiểm.
- Cô. Vì luôn bị Kình Đà kẹp, Lộc Tồn mang sắc "một mình giữ kho". Sách phổ thông hay nói Lộc Tồn thủ Mệnh thì tự lập, ít dựa được anh em.
Lộc Tồn còn là điểm khởi của vòng Bác Sĩ (Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao...): sao Bác Sĩ luôn đóng cùng cung Lộc Tồn, rồi mười một sao kia đi thuận hoặc nghịch theo âm dương nam nữ.
Cách an Lộc Tồn theo can năm sinh
Lộc Tồn an theo can năm sinh âm lịch (đổi ở Tết, không phải 1/1 dương lịch). Kình Dương ở cung kế tiếp theo chiều thuận, Đà La ở cung liền trước.
| Can năm | Năm sinh ví dụ | Lộc Tồn | Kình Dương | Đà La |
|---|---|---|---|---|
| Giáp | 1984, 1994 | Dần | Mão | Sửu |
| Ất | 1985, 1995 | Mão | Thìn | Dần |
| Bính | 1986, 1996 | Tỵ | Ngọ | Thìn |
| Đinh | 1987, 1997 | Ngọ | Mùi | Tỵ |
| Mậu | 1988, 1998 | Tỵ | Ngọ | Thìn |
| Kỷ | 1989, 1999 | Ngọ | Mùi | Tỵ |
| Canh | 1990, 2000 | Thân | Dậu | Mùi |
| Tân | 1991, 2001 | Dậu | Tuất | Thân |
| Nhâm | 1992, 2002 | Hợi | Tý | Tuất |
| Quý | 1993, 2003 | Tý | Sửu | Hợi |
Cách nhớ: Lộc Tồn đứng ở cung Lâm Quan của hành can năm. Giáp Ất Mộc thì Dần Mão; Bính Mậu ở Tỵ, Đinh Kỷ ở Ngọ (Thổ ký Hỏa); Canh Tân Kim ở Thân Dậu; Nhâm Quý Thủy ở Hợi Tý. Bốn cung tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi không phải đất Lâm Quan của can nào, nên Lộc Tồn không bao giờ vào tứ mộ. Bảng này các phái Việt và Trung Hoa thống nhất.
Ngoài Lộc Tồn gốc còn có lưu Lộc Tồn an theo can của năm xem, cùng bảng trên, dùng khi xem vận từng năm. Xem bài Đại hạn, tiểu hạn, lưu niên trong Tử Vi.
Bị Kình Đà kẹp: hệ quả hình học của Lộc Tồn
Kình Dương và Đà La không có quy tắc an riêng: chúng chỉ là "Lộc Tồn cộng một" và "Lộc Tồn trừ một". Từ đó suy ra vài điều chắc chắn, không phụ thuộc trường phái:
- Cung có Lộc Tồn luôn bị Kình Đà giáp. Cách "Kình Đà giáp Mệnh" (trang xếp vào hung cách) xảy ra khi và chỉ khi Lộc Tồn thủ Mệnh. Chạy trên dữ liệu, cả hai đều đúng 8,33% số lá số, tức 1/12.
- Lộc Tồn ở Mệnh thì Kình Dương luôn ở Phụ Mẫu, Đà La luôn ở Huynh Đệ. Đây là gốc của câu sách hay nói Lộc Tồn thủ Mệnh "lục thân kém hòa, phải tự lập": không phải lời phán, mà là hai cung lục thân sát bên Mệnh luôn có sát tinh.
- Lộc Tồn không bao giờ gặp Kình hoặc Đà trong cùng cung. Lộc thì bị kẹp, nhưng không bị đâm thẳng.
Sách xưa ví Lộc Tồn là kho, Kình Đà là hai mũi giáo canh kho. Có kho thì có người canh, có người canh thì cũng có áp lực. Vì vậy người đọc kỹ không tách "Lộc Tồn thủ Mệnh" (cát) với "Kình Đà giáp Mệnh" (hung): đó là một thế sao nhìn từ hai phía. Chi tiết về hai sát tinh này ở bài Kình Dương, Đà La.
Lộc Tồn khác Hóa Lộc thế nào
Hai sao trùng chữ "lộc" nên rất hay bị lẫn. Bài Hóa Lộc là gì đã có bảng so sánh ngắn; dưới đây là bản đầy đủ hơn:
| Lộc Tồn | Hóa Lộc | |
|---|---|---|
| Bản chất | Một sao có vị trí riêng | Một "trạng thái" bám vào sao khác |
| An theo | Can năm sinh | Can năm sinh (và can cung, can đại hạn trong phi hóa) |
| Vị trí có thể | 8 cung, không vào tứ mộ | Bất kỳ cung nào |
| Bám vào | Không bám sao nào | Một trong 10 chính tinh |
| Đi kèm | Luôn có Kình, Đà kẹp | Tùy sao nó bám |
| Sắc thái | Tĩnh: giữ, tích, ổn định | Động: chảy vào, cơ duyên, mở rộng |
| Hình ảnh | Cái kho | Dòng nước chảy vào kho |
Cách nhớ gọn: Hóa Lộc là lộc đến, Lộc Tồn là lộc giữ. Người có Hóa Lộc mạnh thường giỏi mở ra; người có Lộc Tồn mạnh thường giỏi giữ lại. Một bên dễ "vào nhanh ra nhanh", một bên dễ "chặt quá thành bó".
Một khác biệt kỹ thuật ít người để ý: Hóa Lộc chịu ảnh hưởng của độ sáng sao mà nó bám (Thái Âm Lộc ở Hợi khác ở Tỵ), còn Lộc Tồn đứng riêng nên không có chuyện đó. Trang này cũng không chấm miếu hãm cho phụ tinh; bảng độ sáng của trang chỉ áp cho 14 chính tinh.
Song Lộc và Lộc Mã: khi hai sao lộc gặp nhau
Song Lộc là Lộc Tồn và Hóa Lộc gặp nhau. Đồng cung là mạnh nhất. Tỉ lệ đồng cung khác nhau theo can, vì Hóa Lộc bám vào sao nào thì phụ thuộc bố cục chính tinh:
| Can | Hóa Lộc bám | Tỉ lệ song Lộc đồng cung |
|---|---|---|
| Giáp | Liêm Trinh | 5,9% |
| Ất | Thiên Cơ | 11,6% |
| Bính | Thiên Đồng | 6,9% |
| Đinh | Thái Âm | 6,0% |
| Mậu | Tham Lang | 8,5% |
| Kỷ | Vũ Khúc | 5,9% |
| Canh | Thái Dương | 6,0% |
| Tân | Cự Môn | 6,4% |
| Nhâm | Thiên Lương | 5,6% |
| Quý | Phá Quân | 10,5% |
Tính chung khoảng 7,3% lá số có song Lộc đồng cung. Rộng hơn, cách Song Lộc triều viên (cả hai sao nằm trong tam phương tứ chính của Mệnh) gặp ở khoảng 11% lá số. Nhớ rằng song Lộc đồng cung thì cung ấy vẫn bị Kình Đà kẹp: lộc dày nhưng giữ trong thế chật.
Lộc Mã giao trì là Lộc gặp Thiên Mã. Thiên Mã an theo chi năm, chỉ ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Ghép với bảng Lộc Tồn, code cho kết quả gọn đến bất ngờ: Lộc Tồn đồng cung Thiên Mã chỉ xảy ra ở sáu năm trong vòng 60 năm:
- Giáp Tý, Giáp Thìn, Giáp Thân: Lộc Mã cùng ở Dần.
- Canh Dần, Canh Ngọ, Canh Tuất: Lộc Mã cùng ở Thân.
Năm Bính, Mậu (Lộc ở Tỵ) và Nhâm (Lộc ở Hợi) thì không bao giờ, vì can dương chỉ đi với chi dương, mà Thiên Mã ở Tỵ, Hợi lại thuộc về các năm chi âm. Hóa Lộc đồng cung Thiên Mã thì rải đều hơn, khoảng 8–9% mỗi can. Còn cách Lộc Mã giao trì theo nghĩa rộng (Lộc và Mã cùng trong tam phương Mệnh) gặp ở khoảng 17% lá số. Ý nghĩa của Thiên Mã xem ở bài Thiên Mã, Đào Hoa, Hồng Loan.
Lộc Tồn ở 12 cung
Vì Kình Dương luôn ở cung trước Lộc Tồn theo thứ tự tên cung, Đà La ở cung sau, nên mỗi vị trí của Lộc Tồn kéo theo hai cung bị "chạm". Mô tả dưới đây là cách hiểu phổ biến, ghi kèm vị trí Kình Đà đúng theo code.
Lộc Tồn ở cung Mệnh
Kình ở Phụ Mẫu, Đà ở Huynh Đệ. Người cẩn trọng, biết giữ của, sống có kế hoạch; thường tự lập sớm. Sách hay nhắc mặt "cô", hẹp lượng, khó nhờ người.
Lộc Tồn ở Huynh Đệ
Kình Dương rơi vào Mệnh, Đà La ở Phu Thê. Anh em có thể là chỗ dựa vật chất, nhưng bản thân phải chịu sức ép của Kình ngay tại Mệnh.
Lộc Tồn ở Phu Thê
Kình ở Huynh Đệ, Đà ở Tử Tức. Người phối ngẫu chắc chắn, biết lo; hôn nhân thiên về ổn định hơn lãng mạn.
Lộc Tồn ở Tử Tức
Kình ở Phu Thê, Đà ở Tài Bạch. Con cái, học trò, sản phẩm của mình có giá trị lâu dài; nhưng Phu Thê chịu Kình nên chuyện vợ chồng cần mềm mỏng.
Lộc Tồn ở Tài Bạch
Kình ở Tử Tức, Đà ở Tật Ách. Tiền vào đều, giỏi tích lũy, hợp thu nhập ổn định hơn đầu cơ. Đây là vị trí sách đánh giá tốt nhất cho chuyện tiền.
Lộc Tồn ở Tật Ách
Kình ở Tài Bạch, Đà ở Thiên Di. Sức khỏe có nền theo lối đọc truyền thống; tiền bạc thì phải giành mới có. Đây là diễn giải truyền thống, không thay việc khám sức khỏe.
Lộc Tồn ở Thiên Di
Kình ở Tật Ách, Đà ở Nô Bộc. Ra ngoài có lộc, và vì Thiên Di xung chiếu Mệnh nên Lộc Tồn "chiếu Mệnh" thẳng; nhiều thầy coi vị trí này không kém Lộc ở Mệnh.
Lộc Tồn ở Nô Bộc
Kình ở Thiên Di, Đà ở Quan Lộc. Bạn bè, đối tác có của; nhưng việc ngoài và việc nghề đều có sát tinh, nên hợp tác cần giấy tờ rõ.
Lộc Tồn ở Quan Lộc
Kình ở Nô Bộc, Đà ở Điền Trạch. Nghề ổn định, có lương có bậc; hợp tổ chức lớn, công việc chuyên môn lâu năm.
Lộc Tồn ở Điền Trạch
Kình ở Quan Lộc, Đà ở Phúc Đức. Giữ được nhà đất, tài sản cố định; công việc thì cạnh tranh.
Lộc Tồn ở Phúc Đức
Kình ở Điền Trạch, Đà ở Phụ Mẫu. Được hưởng từ gia đình, nội tâm biết đủ; Lộc ở Phúc chiếu thẳng Tài Bạch.
Lộc Tồn ở Phụ Mẫu
Kình ở Phúc Đức, Đà La rơi vào Mệnh. Cha mẹ, cấp trên có điều kiện; bản thân mang sắc chậm, dây dưa của Đà.
Mỗi vị trí trên gặp ở đúng 1/12 số lá số. Hai trường hợp đáng nhớ nhất là Huynh Đệ và Phụ Mẫu: Lộc ở ngay bên cạnh, nhưng chính Mệnh lại nhận Kình hoặc Đà.
Lộc Tồn gặp Không Kiếp, Hóa Kỵ, Tuần Triệt
Gặp Địa Không, Địa Kiếp. Đây là thế các sách nói nhiều nhất: kho gặp kẻ "không" và kẻ "cướp", nên lộc khó giữ, tích được rồi hao vì việc bất ngờ. Theo code, Lộc Tồn đồng cung Không hoặc Kiếp ở khoảng 14% lá số, đồng cung cả hai thì khoảng 2,5%. Ngay ở Mệnh thì hiếm: Lộc Tồn và Không hoặc Kiếp cùng thủ Mệnh chỉ khoảng 1,2%. Có thầy đọc mềm hơn: Không Kiếp làm Lộc Tồn bớt "chặt", hợp với lộc từ trí tuệ, sáng tạo hơn là tích của. Xem thêm bài Địa Không, Địa Kiếp.
Gặp Hóa Kỵ. Lộc Tồn đồng cung Hóa Kỵ thành thế Kình Đà giáp Kỵ, được sách Đẩu Số xếp vào loại kém: cái vướng của Kỵ bị dồn hai đầu. Thế này có ở mọi can, khoảng 8–10% lá số mỗi can. Phân tích ở bài Hóa Kỵ là gì.
Gặp Tuần, Triệt. Đặt bảng Triệt theo can cạnh bảng Lộc Tồn, ta thấy Lộc Tồn chỉ bị Triệt ở hai can: Bính (Lộc Tỵ, Triệt Thìn Tỵ) và Quý (Lộc Tý, Triệt Tý Sửu). Các phái Việt nhìn chung cho rằng cát tinh gặp không vong thì khó hưởng trọn. Tuần thì tùy cả can lẫn chi năm. Xem Tuần Triệt trong Tử Vi.
Đọc Lộc Tồn cho tỉnh táo
- Lộc Tồn không phải "giàu". Nó chỉ lĩnh vực nào mình có xu hướng giữ và tích. Giàu hay không là chuyện thu nhập, chi tiêu và quyết định thật. Việc tiền bạc lớn nên hỏi người có chuyên môn.
- Luôn đọc cùng Kình Đà. Lộc Tồn mà quên hai sao kẹp là đọc nửa lá số.
- Xét sao chính trong cung. Lộc Tồn đi với Vũ Khúc, Thiên Phủ thì "kho chồng kho"; đi với Phá Quân, Thất Sát thì giữ trong thế phải xông pha.
- Xét cả tam phương. Lộc Tồn ở Thiên Di, Tài Bạch, Quan Lộc đều chiếu về Mệnh.
Muốn biết Lộc Tồn, Kình, Đà của mình nằm đâu, lập lá số ở trang Tử Vi; bảng Tứ Hóa đầy đủ ở bài Tứ Hóa các can.
Câu hỏi thường gặp
Sao Lộc Tồn là sao tốt hay xấu?
Lộc Tồn được xếp vào cát tinh, chủ về tích lũy, ổn định và giữ của. Nhưng nó luôn bị Kình Dương, Đà La kẹp hai bên, nên cái tốt đi kèm áp lực và tính "cô". Nên đọc cả ba sao cùng nhau thay vì coi Lộc Tồn là tốt tuyệt đối.
Lộc Tồn thủ Mệnh có tốt không?
Thường được đọc là người cẩn trọng, biết giữ của, tự lập. Mặt trái là khá khép kín, ít dựa được anh em, vì Đà La luôn ở Huynh Đệ và Kình Dương luôn ở Phụ Mẫu. Đây cũng chính là thế Kình Đà giáp Mệnh.
Lộc Tồn và Hóa Lộc khác nhau thế nào?
Lộc Tồn là sao có vị trí riêng, chỉ ở tám cung, chủ giữ và tích. Hóa Lộc bám vào một chính tinh, có thể ở bất kỳ cung nào, chủ dòng lộc chảy đến. Gặp nhau thì gọi là song Lộc.
Vì sao Lộc Tồn không bao giờ ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi?
Vì Lộc Tồn đặt ở cung Lâm Quan của hành can năm: Dần Mão cho Mộc, Tỵ Ngọ cho Hỏa và Thổ, Thân Dậu cho Kim, Hợi Tý cho Thủy. Không can nào có Lâm Quan ở tứ mộ.
Lộc Tồn ở cung Tài Bạch nghĩa là gì?
Tiền vào đều, giỏi tích lũy, hợp thu nhập ổn định hơn đầu cơ. Kình Dương lúc đó ở Tử Tức, Đà La ở Tật Ách. Nếu thêm Địa Không, Địa Kiếp trong cung thì truyền thống đọc là tích được nhưng dễ hao bất ngờ.
Lộc Mã giao trì là gì?
Là khi Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc gặp Thiên Mã, được đọc là lộc đến nhờ đi lại, làm xa, buôn bán. Lộc Tồn và Thiên Mã cùng cung chỉ xảy ra với sáu năm sinh: Giáp Tý, Giáp Thìn, Giáp Thân (ở Dần) và Canh Dần, Canh Ngọ, Canh Tuất (ở Thân).