Thư viện Polaris☯ Hỏi Thầy Huyền

Ngoại cách, tòng cách trong Bát Tự: điều kiện và vì sao dễ nhầm

Ngoại cách và tòng cách trong Bát Tự: tòng tài, tòng sát, tòng nhi, tòng vượng, chuyên vượng, hóa khí cách. Điều kiện, ví dụ thật, tỉ lệ lá số nghiêng cực.

12 phút đọc

Tranh thủy mặc một con thuyền nhỏ không người lái trôi theo dòng sông lớn giữa hai vách núi, sương mù dày và ánh vàng nhạt phía cuối dòng

Tòng cách là loại ngoại cách trong Bát Tự khi nhật chủ quá yếu, gần như không có gốc, còn cả lá số nghiêng hẳn về một thế khác. Thay vì cố nâng nhật chủ, người luận "tòng", tức theo luôn thế mạnh ấy: tòng Tài, tòng Sát, tòng Nhi. Ngược lại, khi nhật chủ mạnh áp đảo thì có tòng vượng, tòng cường, chuyên vượng. Nhật chủ hợp với can bên cạnh rồi "hóa" thành hành khác thì gọi là hóa khí cách.

Điểm khiến ngoại cách quan trọng: nhận đúng hay sai thì dụng thần đảo ngược hoàn toàn. Bài này nêu điều kiện của từng loại, ví dụ lá số thật chạy bằng code của trang, và đếm xem bao nhiêu lá số thật sự "nghiêng cực" đủ để nghĩ tới tòng cách.

Ngoại cách là gì, khác cách chính ở đâu

Trong lối cách cục, lá số được đặt tên theo thần của nguyệt lệnh: Chính Quan cách, Thực Thần cách, Kiến Lộc cách... (xem cách cục Bát Tự). Đó là chính cách hay nội cách. Ngoại cách là những cấu trúc nằm ngoài khung đó, được gọi tên theo thế của cả lá số chứ không theo riêng tháng sinh.

Các sách nhìn ngoại cách rất khác nhau:

  • Tử Bình Chân Thuyên hẹp nhất. Chương bàn ngoại cách nói chỉ dùng khi nguyệt lệnh không có dụng thần (chủ yếu khi tháng sinh trùng hành nhật chủ), và phê việc thấy cách chính bị phá liền bỏ đi tìm ngoại cách là "sai lại càng sai".
  • Trích Thiên Tủy, nhất là bản chú của Nhậm Thiết Tiều đời Thanh, bàn rộng: có "tòng tượng", "hóa tượng", "nhất hành đắc khí", "lưỡng thần thành tượng". Nhậm Thiết Tiều chia tòng thành nhiều loại như tòng Tài, tòng Sát, tòng Nhi, tòng Thế, tòng Vượng, tòng Cường.
  • Nhiều người luận hiện đại hoài nghi: cho rằng tòng cách "chân" rất hiếm, phần lớn chỉ là "giả tòng" (tòng mà vẫn còn chút gốc), và nên luận như lá số rất nhược trước khi nghĩ tới tòng.

Không có trọng tài nào phân xử. Bài này trình bày điều kiện theo cách hiểu phổ biến, rồi chỉ ra chỗ dễ sai.

Tòng nhược: tòng Tài, tòng Sát, tòng Nhi, tòng Thế

Điều kiện chung của nhóm tòng nhược mà hầu hết sách đồng ý:

  1. Nhật chủ không có gốc: trong bốn địa chi không có tàng can cùng hành với nhật chủ (hoặc chỉ có rất yếu, tùy người).
  2. Không có Ấn sinh đáng kể, không có Tỷ Kiếp lộ giúp.
  3. Một thế áp đảo và thế ấy liền mạch, không bị chữ khác chống lại.
LoạiThế áp đảoDụng thần khi tòngPhá cách khi gặp
Tòng TàiTài (hành nhật chủ khắc), thường có Thực Thương sinh TàiTài, Thực Thương, có thể cả Quan SátTỷ Kiếp, Ấn có lực
Tòng Sát (tòng Quan Sát)Quan Sát (hành khắc nhật chủ), thường có Tài sinh SátQuan Sát, TàiThực Thương chế Sát, Ấn, Tỷ Kiếp
Tòng NhiThực Thương (hành nhật chủ sinh ra), "nhi" là conThực Thương, TàiẤn khắc Thực Thương, Quan Sát
Tòng ThếTài, Quan, Thực Thương ngang nhau, không thế nào áp đảoHành đứng giữa nối các thếẤn, Tỷ Kiếp

Chú ý cột cuối: với tòng cách, chính Ấn và Tỷ Kiếp, thứ mà lối phù ức thường coi là "thuốc" cho nhật chủ yếu, lại thành chữ phá cách. Đó là lý do nhận sai tòng cách thì mọi lời khuyên phía sau đều ngược.

Tòng cường, chuyên vượng và hóa khí cách

Tòng vượng, tòng cường

Theo cách phân của Nhậm Thiết Tiều: tòng vượng là bốn trụ toàn Tỷ Kiếp, không có Quan Sát chế, có Ấn sinh; tòng cường là Ấn chồng chất, Tỷ Kiếp trùng điệp, nhật chủ lại đắc lệnh, không một chút Tài hay Quan Sát. Khi ấy người luận thuận theo thế vượng: Tỷ Kiếp, Ấn là dụng; Quan Sát là chữ đại kỵ vì "khiêu khích" thế mạnh.

Chuyên vượng: năm cách một hành

Khi một hành chiếm gần trọn lá số, nhật chủ thuộc hành ấy và sinh đúng mùa của nó, sách đặt tên riêng:

CáchNhật chủĐiều kiện điển hìnhKỵ nhất
Khúc TrựcGiáp, ẤtSinh mùa xuân, chi hội Dần Mão Thìn hoặc Hợi Mão MùiCanh Tân, Thân Dậu (Kim)
Viêm ThượngBính, ĐinhSinh mùa hè, chi hội Tỵ Ngọ Mùi hoặc Dần Ngọ TuấtNhâm Quý, Hợi Tý (Thủy)
Giá SắcMậu, KỷSinh tháng Thìn Tuất Sửu Mùi, Thổ đầy chiGiáp Ất, Dần Mão (Mộc)
Tòng Cách (Kim)Canh, TânSinh mùa thu, chi hội Thân Dậu Tuất hoặc Tỵ Dậu SửuBính Đinh, Tỵ Ngọ (Hỏa)
Nhuận HạNhâm, QuýSinh mùa đông, chi hội Hợi Tý Sửu hoặc Thân Tý ThìnMậu Kỷ, Thìn Tuất Sửu Mùi khô (Thổ)

Tên "Tòng Cách" của Kim dễ lẫn với "tòng cách" nói chung; trong bài này khi nói Kim chuyên vượng chúng tôi ghi rõ "Tòng Cách (Kim)". Điều kiện về chi hội có thể là tam hội phương hoặc tam hợp cục (bài tam hợp địa chi phân biệt hai loại này).

Hóa khí cách

Năm cặp ngũ hợp thiên can, mỗi cặp hóa ra một hành: Giáp Kỷ hóa Thổ, Ất Canh hóa Kim, Bính Tân hóa Thủy, Đinh Nhâm hóa Mộc, Mậu Quý hóa Hỏa. Hóa khí cách là khi nhật chủ hợp với can kề bên và hóa thật. Điều kiện hay được nêu:

  1. Nhật chủ hợp với can tháng hoặc can giờ (kề bên), không cách trụ.
  2. Nguyệt lệnh vượng hành hóa thần, ví dụ Đinh Nhâm hóa Mộc thì nên sinh tháng Dần, Mão.
  3. Không có chữ khắc hóa thần (với hóa Mộc là Canh Tân, Thân Dậu).
  4. Không tranh hợp: không có hai can cùng tranh hợp một nhật chủ.
  5. Nhật chủ không có gốc để còn "níu" lại bản tính cũ.

Đủ cả năm điều thì gọi là chân hóa; thiếu một hai điều mà vẫn luận là hóa thì gọi là giả hóa. Bốn điều sau đều là phán đoán mức độ, nên hóa khí cách là ngoại cách gây tranh cãi nhiều nhất.

Bốn lá số thật: vì sao rất dễ xét nhầm

Các lá số dưới đây lập bằng hàm lapBatTu của trang lá số Bát Tự. "Điểm phù trợ" là tỉ lệ (hành nhật chủ + hành sinh nhật chủ) trên tổng điểm ngũ hành có trọng số mà trang tính.

Ứng viên tòng Tài, và bốn tiếng đồng hồ làm đổi tất cả

Nam sinh 12 giờ trưa ngày 7/6/1986: Bính Dần, Giáp Ngọ, Nhâm Ngọ, Bính Ngọ. Nhật chủ Nhâm Thủy sinh tháng Ngọ giữa hè, ba chữ Ngọ, Bính lộ hai lần; Giáp và Dần là Thực Thương sinh cho Hỏa. Trong cả bốn chi không có tàng can Thủy nào, không có Kim (Ấn). Điểm phù trợ chỉ 10%. Đây là hình mẫu sách giáo khoa của tòng Tài.

Mô hình phù ức của trang vẫn gợi ý dụng Kim, Thủy, đúng logic "nhược thì sinh phù". Nếu luận là tòng Tài, dụng lại là Hỏa, Mộc, có thể cả Thổ, còn Kim Thủy là kỵ. Hai đáp án ngược nhau hoàn toàn.

Cùng ngày ấy, sinh 16 giờ thì trụ giờ thành Mậu Thân. Thân tàng Nhâm (gốc cho nhật chủ) và Canh (Ấn). Điểm phù trợ lên 18%, vẫn rất thấp, nhưng nhật chủ đã có gốc nên phần lớn người luận sẽ không còn coi là tòng. Ghi sai giờ sinh một canh là đổi cả hướng luận.

Ứng viên tòng Sát, nhưng còn một sợi rễ

Nữ sinh 10 giờ ngày 10/1/1992: Tân Mùi, Tân Sửu, Ất Dậu, Tân Tỵ. (Sinh trước Lập Xuân nên trụ năm vẫn là Tân Mùi.) Nhật chủ Ất Mộc. Ba can Tân đều là Thất Sát, chi Tỵ Dậu Sửu đủ bộ tam hợp Kim cục. Điểm phù trợ 18%.

Nhưng chi năm Mùi tàng Ất ở dư khí, tức nhật chủ còn một gốc nhỏ; Sửu lại tàng Quý (Ấn). Người coi nhẹ dư khí ở chi năm sẽ luận tòng Sát (hoặc "giả tòng"); người coi gốc là gốc sẽ luận thân rất nhược, lấy Ấn hóa Sát. Cả hai bên đều có sách để dẫn.

Ứng viên Viêm Thượng

Nữ sinh 12 giờ trưa ngày 11/6/1986: Bính Dần, Giáp Ngọ, Bính Tuất, Giáp Ngọ. Bính Hỏa sinh tháng Ngọ, chi có đủ Dần Ngọ Tuất tam hợp Hỏa cục, hai Giáp (Ấn) sinh Hỏa, không một chữ Thủy nào. Điểm phù trợ 77%.

Theo lối chuyên vượng, đây là ứng viên Viêm Thượng: thuận thế Hỏa, Mộc, kỵ Thủy. Mô hình phù ức của trang thì gợi ý Thổ, Kim, Thủy, tức coi Thủy là thuốc. Người luận còn phải xét chữ Tuất (tàng Tân Kim, Mậu Thổ) có đủ làm "lẫn" cách không.

Ứng viên hóa Mộc bị tranh hợp

Nữ sinh 8 giờ sáng ngày 21/2/1992: Nhâm Thân, Nhâm Dần, Đinh Mão, Giáp Thìn. Đinh hợp Nhâm ở can tháng, sinh tháng Dần Mộc vượng, chi có Dần Mão Thìn đủ bộ tam hội phương Đông. Nhìn qua rất giống Đinh Nhâm hóa Mộc.

Nhưng có hai chữ Nhâm (năm và tháng) tranh hợp một Đinh; Dần tàng Bính là gốc của Đinh; chi năm Thân là Kim khắc Mộc. Ba điều kiện bị vi phạm. Đa số sẽ không luận hóa khí cách, mà luận Đinh sinh tháng Dần, Ấn rất vượng.

Một ví dụ ngược để thấy "không gốc" chưa đủ: nam sinh 0 giờ ngày 10/3/1951 (Tân Mão, Tân Mão, Kỷ Dậu, Giáp Tý). Nhật chủ Kỷ không gốc, không Ấn, điểm 12%. Nhưng Kim (Thực Thương) và Mộc (Quan Sát) bằng điểm nhau, đánh nhau chứ không cùng một thế. Không có gì liền mạch để "tòng".

Bao nhiêu lá số thật sự nghiêng cực

Chúng tôi chạy toàn bộ 350.640 lá số từ 1/1/1950 đến 31/12/2029 (mỗi ngày 12 canh giờ) qua mô hình chấm điểm của trang và vài bộ lọc đơn giản.

Tiêu chíTỉ lệ lá số
Điểm phù trợ từ 20% trở xuống3,84%
Điểm phù trợ từ 25% trở xuống8,79%
Điểm phù trợ từ 75% trở lên3,05%
Điểm phù trợ từ 80% trở lên1,32%
Nhật chủ không có gốc trong bốn chi9,54%
Không gốc, và không có Tỷ Kiếp hay Ấn lộ ở can2,11%
Không gốc, không Tỷ Ấn lộ, không cả Ấn ẩn trong chi0,24%
Điểm từ 75% trở lên và không có Quan Sát cả lộ lẫn ẩn0,54%

Cách đọc bảng:

  • Nghiêng cực theo điểm không hiếm: gần 9% lá số có điểm phù trợ dưới một phần tư. Nhưng nghiêng cực mới là điều kiện cần.
  • Lọc chặt về gốc và Ấn thì còn rất ít: chỉ 0,24%, khoảng 1 trên 420 người, đạt điều kiện "không gốc, không Ấn, không Tỷ" chặt nhất. Đó còn chưa xét thế có liền mạch không, như ví dụ năm 1951 ở trên.
  • Chuyên vượng sạch cũng hiếm: 0,54% lá số vừa rất vượng vừa không có chút Quan Sát nào.

Các bộ lọc này là của chúng tôi, không lấy từ một sách cụ thể, và không thay được người luận. Nhưng nó cho một trực giác đáng tin: tòng cách thật, nếu có, chỉ ở mức vài phần nghìn, còn "lá số rất nhược" thì gặp hàng chục lần nhiều hơn.

Vì sao dễ xét nhầm tòng cách

  1. Gốc nhỏ có tính không? Dư khí trong chi năm, chi giờ là gốc thật hay không đáng kể, mỗi người một ý. Ví dụ năm 1992 ở trên là đúng chỗ này.
  2. Giờ sinh. Trụ giờ đủ sức tạo hoặc xóa một gốc. Lá số tòng mà giờ sinh không chắc thì kết luận cũng không chắc.
  3. Đại vận. Tòng cách đi vào vận có gốc cho nhật chủ thì bị phá; ngược lại lá số rất nhược đi vận toàn Tài Sát có khi được luận "tạm tòng". Ranh giới vì vậy mờ thêm.
  4. Hợp hóa trong lá số. Một chữ bị hợp mất, hay một tam hợp hóa cục, có thể làm thế lá số khác hẳn đếm từng chữ.
  5. Cái giá của nhầm rất lớn. Phù ức và tòng cho dụng thần ngược nhau, nên nhầm một bước là cả lời luận đảo chiều.
  6. Tâm lý "cách đặc biệt". Nghe mình có tòng cách hay hóa khí cách thì dễ thích, và dễ bị dùng để bán dịch vụ. Hãy hỏi người luận vì sao nhật chủ được coi là không gốc, và họ có xét giờ sinh, đại vận chưa.

Trang này xử lý ngoại cách thế nào

Công cụ lập lá số Bát Tự chưa nhận diện tòng cách, chuyên vượng hay hóa khí cách. Mô hình phù ức luôn gợi ý sinh phù khi điểm dưới 52% và tiết khắc khi từ 52% trở lên, kể cả với lá số 10% hay 77% như các ví dụ trên. Cách làm, ngưỡng và giới hạn của mô hình có ở bài thân vượng thân nhược và dụng thần.

Gợi ý thực dụng: nếu lá số của bạn có điểm phù trợ dưới khoảng 20% hoặc trên khoảng 75%, hãy coi phần dụng thần trang đưa ra là một khả năng, và tự soát các điều kiện trong bài này. Dụng thần, dù theo lối nào, cũng chỉ là khung đọc lá số của truyền thống, không phải thứ để quyết định thay cho thông tin thực tế (xem dụng thần không phải thần may mắn).

Câu hỏi thường gặp

Tòng cách là gì?

Tòng cách là ngoại cách khi nhật chủ quá yếu, không có gốc, và cả lá số nghiêng về một thế mạnh như Tài, Quan Sát hay Thực Thương. Khi đó người luận theo thế mạnh ấy thay vì nâng nhật chủ, nên dụng thần ngược với lối phù ức.

Tòng tài, tòng sát, tòng nhi khác nhau thế nào?

Khác ở thế áp đảo. Tòng Tài là Tài (hành nhật chủ khắc) áp đảo; tòng Sát là Quan Sát (hành khắc nhật chủ) áp đảo; tòng Nhi là Thực Thương (hành nhật chủ sinh ra) áp đảo. Cả ba đều kỵ Ấn và Tỷ Kiếp có lực.

Làm sao biết lá số của mình có phải tòng cách không?

Soát ba điều: nhật chủ có gốc trong bốn địa chi không, có Ấn hay Tỷ Kiếp lộ không, và thế mạnh có liền một mạch không. Đủ cả ba mới nên nghĩ tới tòng. Trên 350.640 lá số chúng tôi thử, chỉ khoảng 0,24% qua được bộ lọc chặt nhất.

Hóa khí cách là gì?

Là khi nhật chủ hợp với can tháng hoặc can giờ theo ngũ hợp (như Đinh hợp Nhâm) và hóa hẳn thành hành mới (Mộc). Điều kiện gồm nguyệt lệnh vượng hành hóa, không chữ khắc hóa thần, không tranh hợp và nhật chủ không gốc.

Chuyên vượng là gì?

Là khi một hành chiếm gần trọn lá số, nhật chủ thuộc hành ấy và sinh đúng mùa của nó, như Viêm Thượng (Hỏa), Khúc Trực (Mộc), Giá Sắc (Thổ), Nhuận Hạ (Thủy), Tòng Cách (Kim). Khi đó người luận thuận theo hành vượng, kỵ hành khắc nó.

Tòng cách có tốt hơn lá số bình thường không?

Không có cơ sở để nói vậy. Tòng cách chỉ là một cách đọc cấu trúc lá số, kèm điều kiện chặt và nhiều tranh cãi. Sách cổ cũng ghi tòng cách gặp vận phá cách thì trắc trở, nên không có cách nào "tốt sẵn".

☯ Hỏi Thầy Huyền về bài này

Nội dung mang tính tham khảo và văn hoá; không phải lời khuyên để làm theo.