Cách cục Bát Tự là "khung" của một lá số: người luận nhìn nguyệt lệnh (địa chi của tháng sinh), xem can ẩn trong đó là thần gì so với nhật chủ, rồi đặt tên cho cả lá số theo thần ấy, như Chính Quan cách, Thất Sát cách, Thực Thần cách. Theo Tử Bình Chân Thuyên, có tám cách chính: Chính Quan, Thất Sát, Tài, Ấn, Thực Thần, Thương Quan, Kiến Lộc và Dương Nhận. Ngoài ra còn các ngoại cách như tòng cách, hóa khí cách, chuyên vượng.
Đặt tên cách xong thì mới bắt đầu luận: cách ấy thành hay phá, chữ nào giúp, chữ nào hại. Bài này đi theo trình tự đó, có ví dụ lá số chạy bằng chính code của trang và bảng tỉ lệ các cách trên hơn 350 nghìn lá số.
Cách cục trong Bát Tự là gì
Chữ "cách cục" hay bị dùng lỏng, có khi lẫn cả với cách cục Tử Vi. Bài này dùng nghĩa chặt nhất: cách cục theo Tử Bình Chân Thuyên của Thẩm Hiếu Chiêm đời Thanh, sách chuẩn mực của phái cách cục.
Câu mở chương bàn về dụng thần của sách nói rõ phương pháp: 「八字用神,專求月令」, tức dụng thần của bát tự chỉ tìm ở nguyệt lệnh. Lấy can ngày (nhật chủ) đối với chi tháng, quan hệ sinh khắc khác nhau thì cách cục cũng chia ra khác nhau.
Hai điều cần nắm ngay:
- Trong Chân Thuyên, "dụng thần" chính là thần của nguyệt lệnh, khác với nghĩa "hành giúp cân bằng" phổ biến hiện nay. Bài dụng thần không phải thần may mắn phân tích kỹ chỗ hai nghĩa vênh nhau.
- Cách cục không phải xếp hạng tốt xấu. Thất Sát cách hay Thương Quan cách không "kém" Chính Quan cách. Cái quyết định là cách có thành hay không.
Nếu bạn chưa quen nhật chủ, tàng can, thập thần, nên đọc trước Bát Tự Tứ Trụ là gì và thập thần trong Bát Tự.
Cách lấy cách theo nguyệt lệnh
Quy trình dưới đây là cách đọc phổ biến của các chương "luận dụng thần" và "luận dụng thần biến hóa" trong Chân Thuyên.
- Xác định nguyệt lệnh. Đó là chi tháng tính theo tiết khí, không phải tháng âm lịch. Sinh 15/8 thường đã qua Lập Thu, nguyệt lệnh là Thân dù âm lịch có thể mới tháng 6.
- Nếu chi tháng là Lộc hoặc Nhận của nhật chủ, thì đó là Kiến Lộc (hay Nguyệt Kiếp) cách, hoặc Dương Nhận cách. Ví dụ Giáp sinh tháng Dần là Kiến Lộc, Giáp sinh tháng Mão là Dương Nhận.
- Còn lại, xem can ẩn trong chi tháng có can nào lộ lên thiên can (năm, tháng hoặc giờ) không. Ưu tiên bản khí lộ; bản khí không lộ mà trung khí, dư khí lộ thì lấy can lộ ấy.
- Không can nào lộ thì lấy bản khí của chi tháng.
- Đặt tên cách theo thập thần của can được chọn. Chính Tài và Thiên Tài gộp chung là Tài cách; Chính Ấn và Thiên Ấn gộp là Ấn cách.
Bước 3 có căn cứ trong chương "luận dụng thần biến hóa". Sách ví chi Dần như một quận: Giáp là quan phủ đứng đầu, Bính và Mậu là quan phụ tá. Nếu tháng Dần mà Giáp không lộ, Bính lại lộ, thì như quan phủ vắng mặt, phụ tá được làm chủ. Sách cũng ghi rằng Tý, Ngọ, Mão, Dậu ít biến hóa, còn các chi khác đều có tàng can nhiều tầng, không riêng bốn chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
Bốn chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi được gọi là tạp khí vì chứa ba can lẫn nhau, và Chân Thuyên có chương riêng bàn cách lấy dụng ở đó. Chỗ này người luận hay chọn khác nhau nhất.
Bát cách chính trong Tử Bình Chân Thuyên
Chân Thuyên chia thần của nguyệt lệnh làm hai nhóm. Tài, Quan, Ấn, Thực là thần lành, nên thuận dụng: bảo vệ, sinh trợ cho nó. Sát, Thương, Kiếp, Nhận là thần dữ, nên nghịch dụng: chế ngự hoặc hóa giải cho nó thuần. Sách viết: thuận được thì thuận, nghịch được thì nghịch, phối hợp đúng thì đều là quý cách.
| Cách | Nguyệt lệnh là | Nhóm | Thành cách tiêu biểu | Phá cách tiêu biểu |
|---|---|---|---|---|
| Chính Quan | Chính Quan | Thuận dụng | Quan gặp Tài, Ấn, không bị hình xung | Quan gặp Thương Quan khắc, bị hình xung |
| Tài | Chính Tài hoặc Thiên Tài | Thuận dụng | Tài sinh Quan; Tài có Thực sinh mà thân mạnh | Tài nhẹ mà Tỷ Kiếp nặng; Tài lộ Thất Sát |
| Ấn | Chính Ấn hoặc Thiên Ấn | Thuận dụng | Ấn nhẹ gặp Sát; Quan Ấn song toàn | Ấn nhẹ gặp Tài phá |
| Thực Thần | Thực Thần | Thuận dụng | Thực Thần sinh Tài; Thực Thần chế Sát mà không có Tài | Thực gặp Kiêu (Thiên Ấn) đoạt |
| Thất Sát | Thất Sát | Nghịch dụng | Thân mạnh, Sát được chế | Sát gặp Tài mà không có chế |
| Thương Quan | Thương Quan | Nghịch dụng | Thương Quan sinh Tài; Thương Quan phối Ấn | Thương Quan gặp Quan (trừ trường hợp Kim Thủy) |
| Dương Nhận | Kiếp Tài ở đế vượng của can dương | Nghịch dụng | Nhận lộ Quan Sát, có Tài Ấn, không gặp Thương Quan | Nhận không có Quan Sát |
| Kiến Lộc (Nguyệt Kiếp) | Lộc hoặc Kiếp của nhật chủ | Nghịch dụng | Lộ Quan gặp Tài Ấn; lộ Tài gặp Thực Thương; lộ Sát được chế | Không có Tài Quan, chỉ lộ Sát Ấn |
Các điều kiện trong bảng tóm từ chương "luận dụng thần thành bại cứu ứng". Mỗi cách trong sách còn liệt kê nhiều biến thể nữa, bảng chỉ giữ ý chính.
Hai điểm hay gây thắc mắc:
- Dương Nhận chỉ có ở năm can dương: Giáp ở Mão, Bính và Mậu ở Ngọ, Canh ở Dậu, Nhâm ở Tý. Can âm gặp chi Kiếp Tài ở tháng (như Ất sinh tháng Dần) thường được gộp vào Kiến Lộc Nguyệt Kiếp.
- Kiến Lộc và Dương Nhận là cách "không có dụng ở nguyệt lệnh". Tháng sinh là chính hành của nhật chủ, nên sách bảo phải tìm Tài, Quan, Sát, Thực lộ ra hoặc hội ở chỗ khác để dùng, nhưng vẫn lấy nguyệt lệnh làm gốc.
Muốn hiểu sâu từng thần trước khi đọc cách, xem các bài Thất Sát và Chính Quan, Thương Quan trong Bát Tự, Thực Thần, Chính Tài, Thiên Tài, Chính Ấn, Thiên Ấn và Tỷ Kiên, Kiếp Tài.
Thành cách, phá cách và cứu ứng
Lấy được tên cách mới là một nửa. Nửa sau là câu hỏi: cách ấy có được bảo vệ hay bị phá?
- Thành cách: thần nguyệt lệnh được những chữ khác phối hợp đúng chiều. Chính Quan có Tài sinh, có Ấn hộ; Thất Sát có Thực Thần chế.
- Phá cách: có chữ đánh thẳng vào thần nguyệt lệnh. Chính Quan gặp Thương Quan; Thực Thần gặp Thiên Ấn; Tài bị Tỷ Kiếp tranh.
- Cứu ứng: phá rồi nhưng có chữ thứ ba giải. Chân Thuyên tóm bằng câu 「成中有敗,必是帶忌;敗中有成,全憑救應」: trong thành có bại là vì mang chữ kỵ, trong bại có thành là nhờ hết vào cứu ứng. Ví dụ Chính Quan gặp Thương Quan, nhưng có Ấn lộ chế Thương Quan, thì Quan được cứu.
Lối vượng suy hỏi "nhật chủ mạnh hay yếu" (xem thân vượng thân nhược và dụng thần); lối cách cục hỏi "cấu trúc quanh thần tháng sinh có trơn tru không". Nhiều người luận dùng cả hai.
Ví dụ: ba lá số chạy bằng code của trang
Ba lá số dưới đây lập bằng hàm lapBatTu của trang lá số Bát Tự. Phần tứ trụ, tàng can và điểm vượng nhược là kết quả máy tính; phần đọc cách là phân tích tay theo quy trình ở trên.
Lá số 1: Chính Quan cách bị Thương Quan đe dọa
Sinh 8 giờ sáng ngày 17/5/1986.
| Năm | Tháng | Ngày | Giờ | |
|---|---|---|---|---|
| Can chi | Bính Dần | Quý Tỵ | Tân Dậu | Nhâm Thìn |
| Thập thần của can | Chính Quan | Thực Thần | Nhật chủ | Thương Quan |
Nhật chủ Tân Kim, nguyệt lệnh Tỵ tàng Bính (Chính Quan), Mậu (Chính Ấn), Canh (Kiếp Tài). Bản khí Bính lộ ở can năm, nên đây là Chính Quan cách.
Vấn đề: can giờ lộ Nhâm là Thương Quan, can tháng là Quý Thực Thần, cả hai đều Thủy khắc Hỏa. Đó là mầm "Thương Quan kiến Quan". Chữ cứu là Mậu Thổ (Chính Ấn) tàng trong Tỵ và Thìn: Thổ chế Thủy, bảo vệ Quan. Nhưng Mậu chỉ ẩn, không lộ, nên lực cứu bị nhiều người đánh giá là chưa đủ. Mô hình của trang chấm thân hơi nhược (37%), gợi ý dụng Thổ, Kim. Tình cờ ở đây Thổ vừa là chữ phù thân, vừa là chữ cứu cách, nên hai lối đọc gặp nhau.
Lá số 2: tháng Dần, bản khí không lộ
Nữ sinh 0 giờ ngày 3/3/1986: Bính Dần, Canh Dần, Bính Ngọ, Mậu Tý.
Nhật chủ Bính Hỏa sinh tháng Dần. Dần tàng Giáp (Thiên Ấn), Bính (Tỷ Kiên), Mậu (Thực Thần). Giáp không lộ; Bính lộ ở năm nhưng là Tỷ Kiên, không dùng định cách; Mậu lộ ở giờ. Theo đúng ví dụ "quan phủ vắng mặt" của Chân Thuyên, nhiều người sẽ đọc là Thực Thần cách. Người khác giữ nguyên tắc bản khí và gọi là Ấn cách. Một lá số, hai tên cách, và hướng luận sau đó cũng khác. Đây là loại lá số nên hỏi người luận "anh chị lấy cách theo chữ nào, vì sao".
Lá số 3: Dương Nhận gặp cả Quan lẫn Sát
Nam sinh 12 giờ trưa ngày 31/3/1986: Bính Dần, Tân Mão, Giáp Tuất, Canh Ngọ.
Giáp Mộc sinh tháng Mão, đúng chỗ Dương Nhận, nên đây là Dương Nhận cách. Điều kiện thành cách đầu tiên là có Quan Sát lộ: ở đây có cả Tân (Chính Quan) ở tháng và Canh (Thất Sát) ở giờ. Nhưng Quan Sát cùng lộ là "hỗn tạp", và Ngọ Tuất bán hợp Hỏa (Thực Thương) có thể chế bớt Quan Sát. Người luận phải cân những lực này.
Chi tiết đáng chú ý: mô hình chấm điểm của trang lại cho lá số này thân hơi nhược (35%), vì Kim và Hỏa nhiều, Thủy bằng 0. Cách cục gọi là Dương Nhận (gốc rất mạnh ở tháng), mô hình đếm điểm lại thấy nhật chủ lép vế. Hai lối đo khác nhau thì kết luận lệch nhau, và đó không phải lỗi tính toán.
Tỉ lệ các cách trên 350.640 lá số
Chúng tôi lập mọi lá số từ 1/1/1950 đến 31/12/2029, mỗi ngày đủ 12 canh giờ, tổng cộng 350.640 lá số, rồi gán cách theo đúng năm bước ở trên. Quy ước Lộc: Giáp Dần, Ất Mão, Bính và Mậu Tỵ, Đinh và Kỷ Ngọ, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Hợi, Quý Tý.
| Cách | Tỉ lệ |
|---|---|
| Tài cách | 20,1% |
| Ấn cách | 19,6% |
| Chính Quan cách | 10,8% |
| Thất Sát cách | 10,8% |
| Kiến Lộc và Nguyệt Kiếp | 11,7% |
| Thương Quan cách | 9,7% |
| Thực Thần cách | 9,6% |
| Dương Nhận cách | 4,2% |
| Thổ sinh tháng tứ khố, không chữ nào lộ | 3,4% |
Tài và Ấn cao gấp đôi vì mỗi cách gộp hai thần (chính và thiên). Dương Nhận thấp vì chỉ có ở năm can dương. Dòng cuối là những lá số Mậu, Kỷ sinh tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi mà không can nào trong chi tháng lộ ra: theo lối Chân Thuyên phải tìm dụng ở chỗ khác, và người luận dễ chọn khác nhau nhất. Con số này phụ thuộc quy ước gán cách; đổi quy tắc tạp khí thì tỉ lệ đổi theo.
Bài học từ bảng: không cách chính nào hiếm đến mức "đặc biệt". Hiếm nhất là Dương Nhận cũng chiếm khoảng 1 trên 24 người; các cách còn lại phần lớn quanh mức 1 trên 10. Nghe ai nói "bạn có cách hiếm, cả nghìn người mới có một" thì nên hỏi họ đang nói cách gì.
Ngoại cách: chỉ tính khi nguyệt lệnh không dùng được
Ngoài tám cách chính còn có ngoại cách: tòng cách (theo hẳn một thế mạnh), hóa khí cách (nhật chủ hợp hóa thành hành khác), chuyên vượng (một hành chiếm gần hết lá số) và hàng chục "tạp cách" có tên riêng.
Chân Thuyên rất dè dặt ở đây. Chương "luận ngoại cách dụng xả" nói ngoại cách chỉ dùng khi nguyệt lệnh thật sự không có dụng thần, như Mộc sinh mùa xuân, Thủy sinh mùa đông, tức tháng sinh trùng hành nhật chủ. Sách dẫn câu 「提綱有用提綱重」 (nguyệt lệnh có dụng thì nguyệt lệnh là trọng) và phê người đời thấy Tài bị cướp, Quan bị thương liền bỏ cách chính đi tìm ngoại cách là "sai lại càng sai".
Các sách thiên về vượng suy như Trích Thiên Tủy (nhất là phần chú của Nhậm Thiết Tiều) bàn ngoại cách rộng hơn nhiều, với tòng tượng, hóa tượng, nhất hành đắc khí. Điều kiện, thống kê và vì sao dễ xét nhầm có ở bài riêng: ngoại cách và tòng cách.
Xem cách cục bát tự trên trang này thế nào
Nói thẳng: công cụ lập lá số Bát Tự của trang chưa tự gán cách cục. Nó lập tứ trụ theo tiết khí, liệt kê đủ tàng can và thập thần của từng chữ, chấm điểm ngũ hành và vượng nhược theo lối phù ức. Bạn có đủ dữ liệu để tự lấy cách theo năm bước trên:
- Nhìn ô trụ tháng, đọc chi tháng và danh sách tàng can kèm thập thần.
- Xem trong ba can năm, tháng, giờ có can nào trùng với tàng can ấy.
- Đặt tên cách, rồi soát bảng thành cách, phá cách.
Chúng tôi chưa đưa tên cách lên lá số vì các bước 3, 4 (tạp khí, nhiều can cùng lộ, can lộ mà bị hợp) còn nhiều tranh luận.
Cũng nên nhớ: cách cục là một khung phân tích của truyền thống mệnh lý. Chưa có nghiên cứu đối chứng nào cho thấy lá số "thành cách" dự báo đời sống tốt hơn lá số "phá cách". Dùng nó để hiểu cấu trúc lá số, đừng dùng để tự gán nhãn mình "quý" hay "hèn".
Câu hỏi thường gặp
Cách cục trong bát tự là gì?
Là tên gọi cấu trúc chính của lá số, lấy theo thần của nguyệt lệnh (chi tháng sinh) so với nhật chủ. Ví dụ nguyệt lệnh là Chính Quan thì gọi là Chính Quan cách. Sau đó người luận xét cách thành hay phá.
Có bao nhiêu cách cục bát tự?
Theo Tử Bình Chân Thuyên có tám cách chính: Chính Quan, Thất Sát, Tài, Ấn, Thực Thần, Thương Quan, Kiến Lộc (gồm Nguyệt Kiếp) và Dương Nhận. Ngoài ra có các ngoại cách như tòng cách, hóa khí cách, chuyên vượng và nhiều tạp cách có tên riêng.
Làm sao tự xem cách cục bát tự của mình?
Lập lá số theo tiết khí, nhìn chi tháng và các can ẩn trong đó. Nếu chi tháng là Lộc hay Nhận của nhật chủ thì là Kiến Lộc hoặc Dương Nhận cách. Nếu không, lấy can ẩn nào lộ lên thiên can; không can nào lộ thì lấy bản khí, rồi gọi tên theo thập thần.
Thất Sát cách hay Thương Quan cách có xấu không?
Không. Chân Thuyên xếp Sát, Thương, Kiếp, Nhận vào nhóm cần chế ngự, nhưng nói rõ phối hợp đúng thì đều là quý cách. Thất Sát được Thực Thần chế, Thương Quan phối Ấn hay sinh Tài là những cấu trúc được khen.
Thành cách và phá cách là gì?
Thành cách là thần nguyệt lệnh được các chữ khác hỗ trợ đúng chiều, như Chính Quan có Tài, Ấn. Phá cách là có chữ khắc thẳng vào nó, như Chính Quan gặp Thương Quan. Phá mà có chữ giải thì gọi là cứu ứng.
Cách cục và dụng thần khác nhau thế nào?
Trong Chân Thuyên, dụng thần chính là thần của nguyệt lệnh, nên cách cục và dụng thần gần như là một. Trong lối phù ức phổ biến hiện nay, dụng thần là hành giúp nhật chủ cân bằng, có thể khác hẳn thần định cách.