Thư viện Polaris☯ Hỏi Thầy Huyền

Hà Đồ

Hà Đồ là đồ hình mười số từ 1 đến 10 xếp theo bốn phương và trung tâm, gắn với ngũ hành tương sinh. Nguồn gốc thật sự đời Tống, cách đọc và chỗ hay hiểu nhầm.

Hà Đồ (河圖, "bức đồ ở sông Hoàng Hà") là đồ hình xếp mười số tự nhiên từ 1 đến 10 thành năm cặp ở bốn phương và trung tâm, mỗi cặp ứng một hành. Nó thường đi đôi với Lạc Thư trong cụm "Hà Đồ Lạc Thư".

Nguồn gốc: truyền thuyết và văn bản

Truyền thuyết kể con long mã hiện lên ở sông Hoàng Hà mang đồ hình trên lưng, vua Phục Hy theo đó vạch bát quái. Hệ Từ truyện có câu nổi tiếng: "Hà xuất Đồ, Lạc xuất Thư, thánh nhân tắc chi" (sông Hà hiện Đồ, sông Lạc hiện Thư, thánh nhân theo đó mà làm).

Nhưng cần tách hai chuyện. Thời cổ, "Hà Đồ" chỉ là tên một điềm lành, không ai biết nó trông thế nào. Hình vẽ bằng chấm đen trắng mà ta thấy ngày nay chỉ xuất hiện từ đời Bắc Tống, trong dòng truyền Đạo gia gắn với Trần Đoàn. Lúc đầu còn có người (Lưu Mục) gọi ngược: đồ chín số là Hà Đồ, đồ mười số là Lạc Thư. Chu Hi đời Nam Tống chốt lại cách gọi hiện nay: mười số là Hà Đồ, chín số là Lạc Thư. Đời Thanh, Hồ Vị viết Dịch đồ minh biện chỉ ra các đồ này không có từ thời thượng cổ.

Cách xếp số

Hà Đồ dựa trên đoạn Hệ Từ "thiên nhất, địa nhị, thiên tam, địa tứ... thiên cửu, địa thập": số lẻ là số trời (dương), số chẵn là số đất (âm). Năm số đầu (1–5) là số sinh, năm số sau (6–10) là số thành, mỗi số sinh cộng 5 ra số thành của nó.

PhươngSố sinhSố thànhHành
Bắc16Thủy
Nam27Hỏa
Đông38Mộc
Tây49Kim
Trung tâm510Thổ

Tổng mười số là 55, đúng con số Hệ Từ gọi là "số trời đất". Đi theo chiều Bắc → Đông → Nam → Trung tâm → Tây là vòng tương sinh Thủy → Mộc → Hỏa → Thổ → Kim. Vì thế người ta hay nói "Hà Đồ chủ sinh", còn Lạc Thư (các cặp Hỏa và Kim đổi chỗ) "chủ khắc".

Dùng ở đâu

  • Dịch học tượng số đời Tống: Chu Hi và các nhà Tống Nho ghép Hà Đồ với bát quái Tiên Thiên, Lạc Thư với bát quái Hậu Thiên (xem Bát quái tiên thiên và hậu thiên). Đây là cách ghép của đời Tống, không phải điều Chu Dịch tự nói.
  • Phong thủy: cặp số Hà Đồ (1–6, 2–7, 3–8, 4–9) được gọi là "sinh thành" hay "hợp thập/hợp ngũ" trong một số phép của Huyền Không, ví dụ khi xét quan hệ giữa sao sơn và sao hướng.
  • Số ngũ hành: cách nói "Thủy số 1, 6; Hỏa số 2, 7..." trong sách phong thủy, chọn số điện thoại... đều lấy từ bảng trên.

Chỗ hay hiểu nhầm

  • "Hà Đồ có từ thời Phục Hy": không có hình vẽ nào trước đời Tống. Cái cổ là tên gọi và đoạn số "thiên nhất địa nhị", không phải bức đồ.
  • "Hà Đồ là ma phương": không. Hà Đồ không có tính chất hàng cột bằng nhau. Ma phương 3×3 là Lạc Thư.
  • Số Hà Đồ khác số Lạc Thư. Hà Đồ cho Tây là 4, 9; Lạc Thư cho Tây là 7. Khi một bài viết nói "số của hướng Tây", nên xem họ dùng đồ nào.

Xem thêm Âm dương ngũ hành là gì, Thiệu Ung (người phát triển mạnh Dịch học tượng số đời Tống) và Kinh Dịch là gì.

☯ Hỏi Thầy Huyền về Hà Đồ

Nội dung mang tính tham khảo và văn hoá; không phải lời khuyên để làm theo.