Thư viện Polaris☯ Hỏi Thầy Huyền

Kình Dương, Đà La: cách an, miếu hãm và ý nghĩa ở Mệnh

Sao Kình Dương, Đà La an thế nào, đắc hãm ở đâu, ở Mệnh, Phu Thê, Tài Bạch nghĩa là gì? Giải thích Kình Đà giáp Mệnh, giáp Kỵ và cách đọc tỉnh táo, có số liệu.

9 phút đọc

Tranh thủy mặc một thanh kiếm cổ cắm trên tảng đá và một sợi xích sắt cuộn dưới chân, sương mù bao quanh vách núi

Kình Dương và Đà La là hai sát tinh luôn đi kèm Lộc Tồn: Kình Dương đứng ngay cung sau Lộc Tồn, Đà La đứng ngay cung trước. Kình Dương chủ sức ép trực diện, cạnh tranh, quyết liệt; Đà La chủ trì trệ, dây dưa, vướng lâu. Hai sao này không đáng sợ như tên gọi: khoảng 1/6 số người có một trong hai sao ngay ở cung Mệnh, và cách đọc đúng luôn đặt chúng cạnh chính tinh, độ sáng và Lộc Tồn.

Bài này đi sâu hơn bài lục cát lục sát: cách an và những hệ quả kiểm được bằng code, chuyện đắc hãm các sách ghi, Kình Đà ở Mệnh, Phu Thê, Tài Bạch, các thế "giáp", và cách đọc không dọa người. Số liệu chạy từ code trang lập lá số Tử Vi.

Kình Dương, Đà La là sao gì

Kình Dương (擎羊, "con dê giương sừng") còn gọi là Dương Nhận, hành Kim. Sách Đẩu Số ghi hóa khí của nó là Hình: hình phạt, thương tích, dao kéo, nhưng cũng là sự sắc bén, dám đối đầu.

Đà La (陀羅) hành Kim, hóa khí là Kỵ: vướng víu, kéo dài, trì hoãn. Kình là mũi giáo đâm thẳng, Đà là sợi xích quấn chân.

Kình DươngĐà La
Hóa khíHìnhKỵ
Kiểu sức épNhanh, trực diện, công khaiChậm, ngấm ngầm, dai dẳng
Mặt dùng đượcQuyết đoán, cạnh tranh, kỹ thuật, ngoại khoaBền bỉ, nhẫn nại, việc cần làm đi làm lại
Mặt tráiNóng, va chạm, tai nạn vật sắcChậm trễ, lề mề, buồn bực âm ỉ

Tên Bát Tự cũng có "Dương Nhận", nhưng là thần sát khác về cách tính. Đừng lấy nghĩa bên này áp sang bên kia.

Cách an Kình Dương, Đà La theo Lộc Tồn

Tìm Lộc Tồn theo can năm sinh, rồi Kình Dương ở cung kế tiếp theo chiều thuận, Đà La ở cung liền trước:

Can nămLộc TồnKình DươngĐà La
GiápDầnMãoSửu
ẤtMãoThìnDần
Bính, MậuTỵNgọThìn
Đinh, KỷNgọMùiTỵ
CanhThânDậuMùi
TânDậuTuấtThân
NhâmHợiTýTuất
QuýTýSửuHợi

Vì Lộc Tồn chỉ ở tám cung, hai sao kẹp nó cũng có "vùng cấm", kiểm được trên toàn bộ dữ liệu:

  • Kình Dương không bao giờ ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi (tứ sinh).
  • Đà La không bao giờ ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu (tứ chính).
  • Kình và Đà không bao giờ đồng cung, cũng không bao giờ xung chiếu nhau. Giữa chúng luôn là đúng một cung: cung Lộc Tồn.

Kình Dương, Đà La đắc địa và hãm địa ở đâu

Trang này không chấm độ sáng cho phụ tinh; bảng miếu hãm của trang chỉ áp cho 14 chính tinh. Bảng dưới là cách ghi phổ biến trong sách Việt, các nguồn vẫn lệch nhau ở vài cung:

SaoĐắc địaHãm địa
Kình DươngThìn, Tuất, Sửu, MùiTý, Ngọ, Mão, Dậu
Đà LaThìn, Tuất, Sửu, MùiDần, Thân, Tỵ, Hợi

Lý lẽ thường nêu: Kình, Đà hành Kim; cung tứ mộ hành Thổ sinh Kim và có tính "chôn giữ", nên kìm được cái sắc của chúng.

Ghép bảng đắc hãm với bảng an sao, ta được một quy luật mà bảng tra rời không cho thấy: mỗi lá số luôn có đúng một trong hai sao ở tứ mộ.

Can nămKình DươngĐà La
Can dương: Giáp, Bính, Mậu, Canh, NhâmHãm (Mão, Ngọ, Dậu, Tý)Đắc (Sửu, Thìn, Mùi, Tuất)
Can âm: Ất, Đinh, Kỷ, Tân, QuýĐắc (Thìn, Mùi, Tuất, Sửu)Hãm (Dần, Tỵ, Thân, Hợi)

Nói gọn: người sinh năm can dương thì Kình hãm, Đà đắc; can âm thì ngược lại. Nếu bạn theo thuyết đắc hãm, đây là điều đầu tiên nên biết về Kình Đà của mình.

Kình Dương ở Ngọ có tên riêng là Mã đầu đới kiếm (đầu ngựa đeo kiếm, vì Ngọ là con ngựa). Chỉ người sinh năm Bính hoặc Mậu mới có Kình ở Ngọ; tính cả điều kiện Mệnh an tại Ngọ thì khoảng 1,7% lá số. Sách cổ có câu bất lợi cho thế này, nhưng nhiều thầy lại nói gặp cát tinh, Hóa Lộc, Hóa Quyền thì thành người "trấn biên", lập nghiệp trong gian khó. Đây là ví dụ rõ nhất cho chuyện cùng một sao, đọc theo bối cảnh mới ra nghĩa.

Kình Dương, Đà La ở cung Mệnh

Kình Dương thủ Mệnh: người thẳng, nóng, dám làm, chịu được cạnh tranh; dễ va chạm, nói trước nghĩ sau. Đắc địa (tứ mộ) thì được đọc là có uy, có sức chiến đấu; hãm thì dễ thành liều, dễ tổn thương cơ thể vì bất cẩn. Gặp Thất Sát, Phá Quân, Vũ Khúc, những sao vốn quyết liệt, Kình được nói là "thêm lưỡi cho kiếm": hợp nghề quân sự, kỹ thuật, phẫu thuật, thể thao.

Đà La thủ Mệnh: người chậm, kỹ, lì; làm việc đến cùng nhưng hay trì hoãn, dễ ôm buồn trong lòng. Đắc địa thì bền bỉ, hãm thì hay lỡ việc vì dây dưa.

Có một điều kiểm được: Kình Dương ở Mệnh khi và chỉ khi Lộc Tồn ở Huynh Đệ; Đà La ở Mệnh khi và chỉ khi Lộc Tồn ở Phụ Mẫu. Nghĩa là người có Kình hoặc Đà thủ Mệnh luôn có kho lộc ngay sát bên. Mỗi trường hợp chiếm 8,33% lá số, cộng lại 16,7%.

Kình Dương, Đà La ở Phu Thê và Tài Bạch

Ở Phu Thê. Kình Dương được đọc là người phối ngẫu cá tính mạnh, hai bên dễ tranh cãi thẳng; hợp lấy muộn hoặc cùng làm một việc chung để lửa có chỗ dùng. Đà La ở Phu Thê thì thường là chuyện kéo dài: tìm hiểu lâu, quyết định chậm, giận nhau dai. Phu Thê luôn xung chiếu Quan Lộc, nên nhiều thầy nói Kình ở Phu Thê cũng là áp lực công việc mang về nhà. Theo vị trí Lộc Tồn: Kình ở Phu Thê thì Lộc Tồn ở Tử Tức; Đà ở Phu Thê thì Lộc Tồn ở Huynh Đệ.

Ở Tài Bạch. Kình Dương: tiền phải giành mới có, hợp nghề cạnh tranh, kiếm nhanh mà cũng dễ mất vì quyết định nóng. Đà La: tiền về chậm, nợ khó đòi, dòng tiền hay kẹt. Kình ở Tài Bạch thì Lộc Tồn luôn ở Tật Ách; Đà ở Tài Bạch thì Lộc Tồn ở Tử Tức. Quyết định tài chính lớn vẫn nên dựa vào số liệu thật và người có chuyên môn.

Kình Đà giáp Mệnh và Kình Đà giáp Kỵ

Kình Đà giáp Mệnh là khi hai sao kẹp hai bên cung Mệnh. Trang xếp vào hung cách: "tiến lui đều vướng". Nhưng như đã nói, thế này chỉ xảy ra khi Lộc Tồn thủ Mệnh, nên luôn đi kèm một cát tinh ngay tại Mệnh. Tỉ lệ đúng 1/12. Đọc một nửa (chỉ thấy hung, hoặc chỉ thấy cát) là đọc sai.

Kình Đà giáp Kỵ là khi Hóa Kỵ đóng cùng cung với Lộc Tồn, nên bị Kình Đà kẹp. Sách Đẩu Số xếp loại kém: cái vướng của Kỵ bị dồn từ hai phía, khó gỡ. Thế này có ở mọi can, chừng 8–10% lá số mỗi can, và đáng để ý nhất khi nó rơi vào Mệnh, Tài Bạch hay Phu Thê. Phân tích Kỵ ở bài Hóa Kỵ là gì.

Ngoài ra còn hai thế hay bị nhầm với "giáp":

  • Kình hoặc Đà đồng cung Hóa Kỵ: thường được đọc nặng hơn Kỵ đơn lẻ, vì sát tinh làm cái vướng thành va chạm thật. Tỉ lệ thay đổi theo can, từ khoảng 4,5% đến gần 12%.
  • Kình Đà cùng chiếu Mệnh: vì giữa Kình và Đà luôn có đúng một cung, chúng không thể một ở Mệnh một ở Thiên Di, nhưng có thể một ở cung tam hợp, một ở cung xung chiếu trong tam phương tứ chính. Điều đó xảy ra khi Lộc Tồn ở Tật Ách (Kình ở Tài Bạch, Đà ở Thiên Di) hoặc ở Nô Bộc (Kình ở Thiên Di, Đà ở Quan Lộc), tổng cộng 1/6 số lá số.

Kình Đà gặp Hỏa Linh, Không Kiếp

Kình Đà là hai trong sáu sát tinh. Khi đi thêm với Hỏa Tinh, Linh Tinh hoặc Địa Không, Địa Kiếp, sách cổ đọc là sát "dồn": nóng thêm nóng, hao thêm hao. Nhưng để biết "dồn" phổ biến đến đâu, chúng tôi đếm trên dữ liệu:

  • Chỉ khoảng 12% lá số có tam phương tứ chính của Mệnh sạch hẳn sáu sát tinh.
  • Khoảng 41% có ít nhất một sát tinh ngay tại cung Mệnh.
  • Số sát tinh trong tam phương Mệnh thường gặp nhất là 2 (khoảng 29%), rồi 1 (25%) và 3 (20%).

Nghĩa là có sát tinh là chuyện bình thường của lá số, không phải dấu hiệu bất thường. Cái đáng xét là sát tinh nào, ở đâu, đi với chính tinh nào.

Đọc Kình Dương, Đà La cho tỉnh táo

  1. Xem Lộc Tồn trước. Kình Đà là "người gác" của Lộc Tồn; vị trí Lộc cho biết Kình Đà đang canh cái gì.
  2. Xem can năm. Can dương thì Kình hãm Đà đắc, can âm thì ngược lại (nếu bạn theo thuyết đắc hãm).
  3. Xem chính tinh cùng cung. Kình với Thất Sát, Vũ Khúc khác hẳn Kình với Thái Âm, Thiên Đồng. Sao mềm gặp Kình thì dễ bị tổn thương; sao cứng gặp Kình thì thêm sức.
  4. Xem Hóa Kỵ và Không Kiếp đi cùng. Kình Đà một mình thường chỉ là "áp lực"; kèm Kỵ hoặc Không Kiếp mới là chỗ cần cẩn thận.
  5. Đừng đọc thành chuyện máu me. "Dao kéo" trong sách có thể là một ca mổ, một nghề kỹ thuật, một lần cạnh tranh gắt. Chuyện sức khỏe thì hỏi bác sĩ, không hỏi lá số.

Tính chất 14 chính tinh mà Kình Đà bám vào, xem 14 chính tinh Tử Vi. Lập lá số để xem Kình Đà của bạn ở đâu: trang Tử Vi.

Câu hỏi thường gặp

Kình Dương thủ Mệnh có xấu không?

Không mặc định xấu. Kình Dương ở Mệnh cho tính quyết liệt, dám cạnh tranh, kèm mặt trái là nóng và dễ va chạm. Người sinh năm can âm có Kình ở tứ mộ, sách Việt coi là đắc địa. Kình thủ Mệnh cũng luôn có Lộc Tồn ở Huynh Đệ ngay cạnh.

Đà La là sao gì?

Đà La là sát tinh hành Kim, hóa khí Kỵ, luôn đứng ngay trước Lộc Tồn. Đà La chủ sự trì trệ, dây dưa, vướng lâu; mặt dùng được là sự bền bỉ, nhẫn nại. Đà La không bao giờ ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu.

Kình Đà giáp Mệnh là gì?

Là khi Kình Dương và Đà La kẹp hai bên cung Mệnh. Vì hai sao luôn kẹp Lộc Tồn, thế này chỉ xảy ra khi Lộc Tồn thủ Mệnh. Nên đọc cùng lúc: có lộc giữ được, nhưng giữ trong sức ép từ hai phía.

Kình Đà giáp Kỵ là gì?

Là khi Hóa Kỵ đóng cùng cung với Lộc Tồn, nên cung đó bị Kình Đà kẹp. Sách xếp loại kém vì cái vướng của Kỵ bị dồn hai đầu. Thế này có ở mọi can, khoảng 8–10% lá số.

Kình Dương ở cung Phu Thê nghĩa là gì?

Thường được đọc là người phối ngẫu cá tính mạnh, hai bên dễ tranh luận thẳng, cần học cách nhường. Không có nghĩa là hôn nhân chắc chắn đổ vỡ; còn phải xét chính tinh của Phu Thê, Hóa Kỵ và cả cung Quan Lộc xung chiếu.

Mã đầu đới kiếm là gì?

Là Kình Dương ở cung Ngọ, thường xét khi đóng ở Mệnh. Chỉ người sinh năm Bính hoặc Mậu mới có thế này. Sách cổ đọc bất lợi nếu thiếu cát tinh, nhưng nếu có Lộc, Quyền, Khoa và cát tinh thì lại được nói là lập nghiệp trong gian khó.

☯ Hỏi Thầy Huyền về bài này

Nội dung mang tính tham khảo và văn hoá; không phải lời khuyên để làm theo.