Nhật chủ là thiên can của ngày sinh trong lá số Bát Tự, đại diện cho chính người có lá số. Có mười nhật chủ ứng với mười thiên can: Giáp, Ất (Mộc), Bính, Đinh (Hỏa), Mậu, Kỷ (Thổ), Canh, Tân (Kim), Nhâm, Quý (Thủy). Mọi chữ khác trong lá số đều được gọi tên theo quan hệ với nhật chủ, nên biết nhật chủ là bước đầu tiên để đọc Bát Tự.
Bài này giải thích nhật chủ tìm ở đâu, vì sao mỗi loại chiếm đúng 10% dân số, tính chất từng nhật chủ theo sách cổ, và vì sao cùng một nhật chủ mà sinh mùa đông với mùa hè lại được luận rất khác nhau.
Nhật chủ là gì và tìm ở đâu
Lá số Bát Tự gồm bốn trụ năm, tháng, ngày, giờ, mỗi trụ một can một chi. Can của trụ ngày là nhật chủ. Cách lập bốn trụ theo tiết khí có ở bài Bát Tự Tứ Trụ là gì.
Ba điều hay nhầm:
- Nhật chủ không phải tuổi. Người sinh năm Giáp Tý chưa chắc là nhật chủ Giáp. Nhật chủ đổi theo từng ngày, còn can năm đổi theo từng năm.
- Nhật chủ không phải "mệnh" nạp âm. "Mệnh Hải Trung Kim" theo năm sinh là chuyện khác hẳn (xem mệnh theo năm sinh).
- Sinh từ 23 giờ đến nửa đêm thì nhật chủ phụ thuộc quy ước giờ Tý. Trang này tính giờ Tý từ 23 giờ sang ngày hôm sau, nên nhật chủ là can của ngày kế tiếp. Bài giờ Tý sớm, Tý muộn bàn kỹ chỗ tranh cãi này.
Từ Tử Bình đời Tống được coi là người chuyển trọng tâm từ can năm sang can ngày. Từ đó, "ta" trong Bát Tự là nhật chủ, và Tài, Quan, Ấn, Thực... đều tính từ nó (bảng tra có ở bài thập thần trong Bát Tự).
Vì sao mỗi nhật chủ chiếm đúng 10%
Can chi ngày chạy liên tục theo vòng 60, không ngắt quãng qua tháng, qua năm. Can ngày vì vậy lặp lại đều đặn mỗi 10 ngày: hôm nay Giáp thì 10 ngày sau lại Giáp.
Chúng tôi lập toàn bộ lá số từ 1/1/1950 đến 31/12/2029, mỗi ngày đủ 12 canh giờ, được 350.640 lá số. Mỗi nhật chủ có đúng 35.064 lá số, tức 10,00%, không lệch một lá nào.
Hệ quả thực tế: cứ 10 người quanh bạn thì trung bình một người cùng nhật chủ. Nhật chủ một mình quá thô để nói gì riêng về ai. Những bài kiểu "người nhật chủ Bính thì tính thế này" chỉ có giá trị như phác họa, giống mô tả cung hoàng đạo; muốn nói cụ thể phải xét mùa sinh và bảy chữ còn lại.
Bảng 10 nhật chủ
Hình tượng trong bảng là cách ví quen thuộc của sách Tử Bình. Câu mở trong cột cuối là bốn chữ đầu của đoạn bàn về từng can trong Trích Thiên Tủy, phần thiên can luận.
| Nhật chủ | Hành, âm dương | Hình tượng | Lộc tại | Câu mở trong Trích Thiên Tủy |
|---|---|---|---|---|
| Giáp | Mộc dương | Cây lớn, gỗ thân cứng | Dần | Giáp mộc tham thiên (cây vươn tới trời) |
| Ất | Mộc âm | Cỏ hoa, dây leo | Mão | Ất mộc tuy nhu (Ất tuy mềm) |
| Bính | Hỏa dương | Mặt trời | Tỵ | Bính hỏa mãnh liệt (lửa mạnh) |
| Đinh | Hỏa âm | Ngọn đèn, lửa lò | Ngọ | Đinh hỏa nhu trung (mềm mà ở giữa) |
| Mậu | Thổ dương | Núi, đê lớn | Tỵ | Mậu thổ cố trọng (dày, nặng) |
| Kỷ | Thổ âm | Đất ruộng, đất ẩm | Ngọ | Kỷ thổ ti thấp (thấp, ẩm) |
| Canh | Kim dương | Sắt thô, đao kiếm | Thân | Canh kim đới sát (mang sát khí) |
| Tân | Kim âm | Vàng bạc, châu ngọc | Dậu | Tân kim nhuyễn nhược (mềm, yếu) |
| Nhâm | Thủy dương | Sông lớn, biển | Hợi | Nhâm thủy thông hà (nước thông sông) |
| Quý | Thủy âm | Mưa, sương, mạch nước | Tý | Quý thủy chí nhược (nước yếu nhất) |
Hình tượng là để nhớ, không phải để suy diễn máy móc. "Bính là mặt trời nên người Bính sôi nổi" là cách nói gợi hình; nó không thay được việc xem lá số.
Tính chất từng nhật chủ
Đoạn dưới tóm lối đọc truyền thống của từng can và điểm mà sách hay nhắc. Nét tính cách đi kèm là cách diễn giải phổ biến hiện đại, chưa có nghiên cứu nào kiểm chứng.
Giáp Mộc
Cây lớn cần Hỏa để "thoát thai" (Trích Thiên Tủy nói Giáp "thoát thai yếu hỏa"), cần Kim để đẽo thành gỗ dùng được. Giáp hay được gắn với tính thẳng, có chí hướng, ngại cúi. Sinh mùa thu, Kim vượng khắc Giáp, sách lấy Đinh Hỏa làm trọng, Canh Kim theo sau: lửa luyện kim, kim đẽo cây.
Ất Mộc
Cỏ hoa mềm nhưng dai. Trích Thiên Tủy nói Ất tuy mềm mà "khuê dương giải ngưu" (mổ dê xẻ trâu), thường được giảng là Ất vẫn bám rễ được trên đất Mùi, Sửu: mềm mà có sức bền ngầm. Ất cần Bính (nắng) và Quý (nước) gần như quanh năm; Cùng Thông Bảo Giám nói mùa xuân "Bính Quý không thể rời". Hay được gắn với sự uyển chuyển, khéo thích nghi.
Bính Hỏa
Mặt trời, "khinh sương lấn tuyết". Điểm đặc biệt: Bính hầu như cần Nhâm Thủy suốt bốn mùa. Cùng Thông dùng chữ "thiên hòa địa nhuận" khi Bính gặp Nhâm: mặt trời soi xuống sông hồ là cảnh đẹp chứ không phải nước dập lửa. Hay được gắn với sự cởi mở, nhiệt tình.
Đinh Hỏa
Lửa đèn nhỏ, cần củi là Giáp Mộc để cháy lâu, và cần Canh Kim "chẻ" Giáp thành củi. Cùng Thông nhắc đi nhắc lại cặp Giáp Canh cho Đinh, nhất là mùa thu và mùa đông. Hay được gắn với sự tinh tế, chu đáo, sáng bên trong.
Mậu Thổ
Núi, đê lớn, "vừa trung vừa chính". Mậu mùa xuân cần Bính sưởi, Giáp khai, Quý tưới; mùa hè khô nóng thì trước tiên xem Nhâm Thủy. Hay được gắn với sự vững vàng, đáng tin, đôi khi chậm đổi.
Kỷ Thổ
Đất ruộng ẩm, "chứa và nuôi". Cùng Thông viết Kỷ mùa hè như ruộng lúa cần mưa, lấy Quý làm chính, Bính thứ; mùa đông đất ướt lạnh cóng, không Bính sưởi thì không sinh. Hay được gắn với sự bao dung, thực tế.
Canh Kim
Sắt thô, cứng nhất trong mười can. Mùa thu Canh "cương nhuệ cực điểm", sách chuyên dùng Đinh Hỏa rèn, lấy Giáp Mộc dẫn lửa. Hay được gắn với tính quyết đoán, thẳng thắn, trọng nghĩa.
Tân Kim
Vàng ngọc đã thành hình, "ấm áp mà trong". Tân sợ lửa lớn làm chảy và đất dày làm chôn vùi, nên Nhâm Thủy để "rửa cho sáng" là chữ Cùng Thông nhắc nhiều nhất. Hay được gắn với sự tinh tế, cầu toàn, trọng thể diện.
Nhâm Thủy
Sông lớn, tiết được khí Kim. Nhâm mùa thu đông nước lớn thì cần Mậu Thổ làm đê; Cùng Thông ghi tháng Thân "chuyên dùng Mậu", tháng Tý "Bính Mậu cùng dùng". Hay được gắn với sự linh hoạt, rộng rãi, khó giữ một chỗ.
Quý Thủy
Mưa sương, yếu nhất mà thấm khắp nơi. Mùa hè Quý gần như cạn, cần Canh Tân làm nguồn; mùa đông đóng băng thì cần Bính để tan. Hay được gắn với sự nhạy cảm, kiên nhẫn, sâu sắc.
Mùa sinh và điều hậu theo Cùng Thông Bảo Giám
Cùng một nhật chủ, sinh tháng Tý giá rét khác hẳn sinh tháng Ngọ oi nồng. Điều hậu là chỉnh nóng lạnh, khô ẩm theo mùa, trình bày có hệ thống nhất trong Cùng Thông Bảo Giám (còn gọi Lan Giang Võng), sách liệt kê chữ cần dùng cho từng can theo từng tháng.
Bảng dưới trích ý một số tháng tiêu biểu, đối chiếu từ nguyên văn sách. Chữ đứng trước là chữ sách coi trọng hơn.
| Nhật chủ | Một tháng xuân | Một tháng hạ | Một tháng thu | Một tháng đông |
|---|---|---|---|---|
| Giáp | Dần: Bính, Quý | Tỵ: Quý trước, Đinh sau | Thân: Đinh, Canh | Tý: Đinh, Canh, Bính phụ |
| Ất | Cả xuân: Bính, Quý | Tỵ: chuyên Quý | Cả thu: Bính, Quý (Tuất chuyên Quý) | Tý: chuyên Bính |
| Bính | Dần: Nhâm, Canh Tân phụ | Ngọ: chuyên Nhâm | Thân: vẫn dùng Nhâm | Tý: Nhâm, Mậu phụ |
| Đinh | Dần: Canh (để chẻ Giáp) | Tỵ: Giáp, Canh | Cả thu: Giáp, Canh, Bính | Cả đông: Giáp, Canh |
| Mậu | Dần, Mão: Bính, Giáp, Quý | Ngọ: Nhâm, Giáp, Bính | Thân: Bính, Quý, Giáp | Hợi: Giáp, Bính |
| Kỷ | Dần: Bính | Cả hạ: Quý, Bính | Cả thu: Bính, Quý | Cả đông: Bính, Giáp |
| Canh | Dần: Bính, Giáp | Ngọ: Nhâm, Quý | Thân: Đinh, Giáp | Tý: Đinh, Giáp, Bính |
| Tân | Dần: Kỷ, Nhâm, Canh | Ngọ: Nhâm, Quý, Kỷ cùng dùng | Thân: Nhâm, Giáp Mậu tùy | Hợi: Nhâm, Bính |
| Nhâm | Dần: Canh, Bính | Ngọ: Quý, Canh | Thân: Mậu, Đinh | Tý: Bính, Mậu |
| Quý | Dần: Tân, Canh, Bính | Tỵ: Tân (không có thì Canh) | Thân: Đinh | Hợi: Canh, Tân |
Đọc bảng này cần ba lưu ý:
- Đây không phải dụng thần phù ức. Điều hậu trả lời câu "lá số nóng hay lạnh quá", phù ức trả lời câu "nhật chủ mạnh hay yếu". Hai câu có thể ra hai đáp án. Bài thân vượng thân nhược và dụng thần giải thích các lối lấy dụng.
- Sách viết rất chi tiết theo từng tháng, kèm điều kiện. Bảng chỉ giữ chữ chính của một tháng mỗi mùa. Đọc nguyên văn thì thấy sách còn phân "lộ hay tàng", "trước hay sau ngày giữa tháng".
- Nhiều người luận chỉ coi điều hậu là ưu tiên khi lá số rơi vào cực nóng hoặc cực lạnh, còn lá số sinh tháng ôn hòa thì phù ức đi trước. Đây là phương án kết hợp phổ biến, không phải quy định của một sách.
Công cụ của trang chưa xét điều hậu. Gợi ý dụng thần trên lá số Bát Tự đến từ mô hình phù ức đếm điểm, nên với người sinh giữa đông hay giữa hè, bạn nên đối chiếu thêm bảng trên.
Mô hình của trang chấm các nhật chủ thế nào
Một kết quả thú vị khi chạy mô hình chấm điểm của trang trên 350.640 lá số: nhật chủ khác nhau có xu hướng vượng nhược khác nhau.
| Nhóm nhật chủ | Điểm phù trợ trung bình | Tỉ lệ ra "vượng" hoặc "hơi vượng" |
|---|---|---|
| Giáp, Ất | 43–44% | 27–30% |
| Bính, Đinh | 42–43% | 27–28% |
| Mậu, Kỷ | 49–50% | 44–45% |
| Canh, Tân | 49–51% | 44–48% |
| Nhâm, Quý | 44% | 30–31% |
Lý do nằm ở cấu tạo tàng can: Thổ có mặt trong tám trên mười hai địa chi (Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Tuất), nên nhật chủ Thổ hay có gốc, còn nhật chủ Kim được Thổ sinh. Đây là đặc điểm của cách đếm có trọng số, không có nghĩa người nhật chủ Mậu, Kỷ, Canh, Tân "khỏe hơn" ai. Nó là thêm một lý do để coi kết luận vượng nhược của mô hình là tham khảo, nhất là với lá số sát ngưỡng.
Đọc nhật chủ cho tỉnh táo
- Nhật chủ là điểm xuất phát, không phải kết luận. Cùng nhật chủ Canh, người sinh tháng Thân (Kim đắc lệnh) và người sinh tháng Ngọ (Hỏa vượng khắc Kim) gần như hai bức tranh ngược nhau.
- Đừng chọn bạn đời, đối tác theo nhật chủ. Kiểu "nhật chủ Giáp hợp nhật chủ Kỷ vì Giáp Kỷ hợp" là đọc một chữ thay cho tám chữ.
- Nhật chủ không đổi theo năm. Năm 2027 Đinh Mùi tác động lên mỗi nhật chủ khác nhau; bài đại vận và lưu niên trong Bát Tự có bảng cho cả mười can.
Cách cục của lá số, vốn lấy từ quan hệ giữa nhật chủ và tháng sinh, có ở bài cách cục Bát Tự.
Câu hỏi thường gặp
Nhật chủ là gì?
Nhật chủ là thiên can của ngày sinh trong lá số Bát Tự, đại diện cho bản thân. Có mười nhật chủ từ Giáp đến Quý. Mọi chữ khác được gọi tên (Tài, Quan, Ấn...) theo quan hệ ngũ hành với nhật chủ.
Làm sao biết nhật chủ của mình?
Lập tứ trụ theo ngày giờ sinh dương lịch, lấy can của trụ ngày. Nhật chủ không suy được từ năm sinh, phải tra lịch can chi ngày. Trang lập lá số Bát Tự hiện nhật chủ ngay ở trụ ngày.
Nhật chủ nào tốt nhất?
Không có nhật chủ nào tốt hơn nhật chủ nào. Mỗi nhật chủ chiếm đúng 10% số người. Tốt xấu, nếu có, nằm ở sự phối hợp giữa nhật chủ với mùa sinh và bảy chữ còn lại.
Nhật chủ Giáp Mộc sinh mùa đông cần gì?
Theo Cùng Thông Bảo Giám, Giáp sinh tháng Tý là cây lạnh, lấy Đinh trước Canh sau, có Bính hỗ trợ. Ý là cần lửa sưởi và kim đẽo gọt. Đây là lối điều hậu, có thể khác với dụng thần phù ức.
Nhật chủ và mệnh nạp âm khác nhau thế nào?
Nhật chủ là can ngày sinh, dùng trong Bát Tự. Mệnh nạp âm (như Hải Trung Kim, Lộ Bàng Thổ) lấy theo cặp can chi năm sinh, dùng trong xem tuổi dân gian. Hai thứ thường khác hành nhau.
Sinh lúc 23 giờ thì nhật chủ tính theo ngày nào?
Tùy quy ước. Trang này tính giờ Tý từ 23 giờ sang ngày hôm sau, nên nhật chủ là can của ngày kế tiếp. Một số người chỉ đổi ngày lúc 0 giờ; nếu sinh trong khung 23–24 giờ, hai cách cho nhật chủ khác nhau.