Can chi trên giáp cốt văn là cách người đời Thương (khoảng thế kỷ 13–11 TCN) ghi ngày bằng cặp thiên can – địa chi, khắc trên mai rùa và xương bò dùng để bói. Đây là chứng tích cổ nhất còn lại của hệ can chi, và ở đó can chi dùng để đếm ngày, chưa dùng cho năm.
Giáp cốt văn là gì
Giáp cốt văn là chữ khắc trên mai rùa (giáp) và xương bả vai trâu bò (cốt), phần lớn đào được ở Ân Khư (An Dương, Hà Nam), kinh đô cuối của nhà Thương. Đó là bản ghi các lần bói của vua Thương: hỏi về tế lễ, săn bắn, mưa, chiến tranh, bệnh tật. Gần như mỗi lời bói đều mở đầu bằng ngày can chi, kiểu "ngày Quý Tỵ bói, hỏi...".
Tuần mười ngày
Đơn vị thời gian quan trọng nhất của người Thương là tuần (旬), gồm mười ngày mang tên mười can từ Giáp đến Quý. Vào ngày Quý, ngày cuối tuần, vua thường bói hỏi tuần tới có tai họa không, công thức quen thuộc là "tuần vong họa" (tuần này không có họa chăng). Loại lời bói này gọi là bốc tuần, xuất hiện rất đều đặn.
Mười can còn gắn với việc thờ tổ tiên. Các vua Thương được gọi bằng tên can: Đại Ất (Thành Thang), Bàn Canh, Vũ Đinh, Đế Tân (vua Trụ). Mỗi vị được tế vào ngày mang can của mình. Đây là lý do nhiều học giả coi mười can trước hết là tên của mười ngày trong tuần. Truyền thuyết "mười mặt trời" thay phiên mọc cũng thường được nhắc cùng.
Bảng sáu mươi ngày
Ghép can với chi theo cặp (Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần...) cho vòng 60. Người ta đã tìm thấy những mảnh xương khắc trọn bảng 60 can chi, có lẽ dùng như bảng tra hay bài tập khắc chữ. Như vậy vòng 60 đã hoàn chỉnh từ thời Thương.
Chuỗi ngày can chi được cho là chạy liên tục, không đứt ít nhất từ thời Xuân Thu (thế kỷ 8 TCN) đến nay: các ngày nhật thực ghi trong Xuân Thu bằng can chi khớp với tính toán thiên văn hiện đại. Ngày can chi mà trang lịch âm của Huyền hiện cho hôm nay nối thẳng từ chuỗi đó.
Can chi cho tháng, giờ, năm đến sau
- Tháng: gắn chi cho tháng (tháng Giêng là Dần) phổ biến khoảng từ Chiến Quốc, Hán trở đi; can tháng suy theo Ngũ hổ độn.
- Năm: ghi năm bằng can chi liên tục chỉ phổ biến từ đời Đông Hán, sau giai đoạn ghi năm theo Tuế tinh và Thái Tuế.
- Giờ: chia ngày thành 12 giờ mang tên chi cũng là hệ của các thời sau, không có trên giáp cốt.
Chỗ hay hiểu nhầm
- "Can chi có gốc từ chu kỳ hành tinh": không có chứng cứ. Bằng chứng cổ nhất cho thấy can chi là công cụ đếm ngày. Sao Mộc chỉ ảnh hưởng về sau tới cách ghi năm.
- "Mười can là mười trạng thái vũ trụ": đó là cách giải thích triết học đời sau (đời Hán gán âm dương ngũ hành cho can chi). Người Thương dùng chúng như tên ngày.
- Ngũ hành của can chi không xuất hiện trên giáp cốt văn; nó là lớp nghĩa thêm vào muộn hơn nhiều.
Xem thêm Thiên Can Địa Chi là gì, Nạp âm và Tứ Hóa có "hàm số" không.