Nạp âm (納音) là phép gán một hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) kèm một tên hình tượng cho mỗi cặp can chi trong vòng 60 hoa giáp. Cứ hai cặp liền nhau chung một nạp âm, nên có 30 nạp âm. "Mệnh" theo năm sinh mà người Việt hay nói (mệnh Kim, mệnh Hỏa...) chính là nạp âm của can chi năm sinh.
Bảng 30 nạp âm
| Cặp can chi | Nạp âm | Cặp can chi | Nạp âm |
|---|---|---|---|
| Giáp Tý, Ất Sửu | Hải Trung Kim | Giáp Ngọ, Ất Mùi | Sa Trung Kim |
| Bính Dần, Đinh Mão | Lô Trung Hỏa | Bính Thân, Đinh Dậu | Sơn Hạ Hỏa |
| Mậu Thìn, Kỷ Tỵ | Đại Lâm Mộc | Mậu Tuất, Kỷ Hợi | Bình Địa Mộc |
| Canh Ngọ, Tân Mùi | Lộ Bàng Thổ | Canh Tý, Tân Sửu | Bích Thượng Thổ |
| Nhâm Thân, Quý Dậu | Kiếm Phong Kim | Nhâm Dần, Quý Mão | Kim Bạch Kim |
| Giáp Tuất, Ất Hợi | Sơn Đầu Hỏa | Giáp Thìn, Ất Tỵ | Phú Đăng Hỏa |
| Bính Tý, Đinh Sửu | Giản Hạ Thủy | Bính Ngọ, Đinh Mùi | Thiên Hà Thủy |
| Mậu Dần, Kỷ Mão | Thành Đầu Thổ | Mậu Thân, Kỷ Dậu | Đại Trạch Thổ |
| Canh Thìn, Tân Tỵ | Bạch Lạp Kim | Canh Tuất, Tân Hợi | Thoa Xuyến Kim |
| Nhâm Ngọ, Quý Mùi | Dương Liễu Mộc | Nhâm Tý, Quý Sửu | Tang Đố Mộc |
| Giáp Thân, Ất Dậu | Tuyền Trung Thủy | Giáp Dần, Ất Mão | Đại Khê Thủy |
| Bính Tuất, Đinh Hợi | Ốc Thượng Thổ | Bính Thìn, Đinh Tỵ | Sa Trung Thổ |
| Mậu Tý, Kỷ Sửu | Tích Lịch Hỏa | Mậu Ngọ, Kỷ Mùi | Thiên Thượng Hỏa |
| Canh Dần, Tân Mão | Tùng Bách Mộc | Canh Thân, Tân Dậu | Thạch Lựu Mộc |
| Nhâm Thìn, Quý Tỵ | Trường Lưu Thủy | Nhâm Tuất, Quý Hợi | Đại Hải Thủy |
Đây đúng là bảng trang Huyền dùng khi lập lá số.
Mẹo tính nhanh
Gán số cho can: Giáp Ất = 1, Bính Đinh = 2, Mậu Kỷ = 3, Canh Tân = 4, Nhâm Quý = 5. Gán số cho chi: Tý Sửu Ngọ Mùi = 0, Dần Mão Thân Dậu = 1, Thìn Tỵ Tuất Hợi = 2. Cộng lại, nếu lớn hơn 5 thì trừ 5: 1 Kim, 2 Thủy, 3 Hỏa, 4 Thổ, 5 Mộc.
Ví dụ Đinh Mùi (2027): 2 + 0 = 2, Thủy (Thiên Hà Thủy). Canh Ngọ: 4 + 0 = 4, Thổ (Lộ Bàng Thổ). Chúng tôi đã cho máy kiểm mẹo này đúng với cả 60 cặp.
Nguồn gốc
Chữ "nạp âm" nghĩa là "thu nạp âm thanh": hệ này gắn với ngũ âm (cung, thương, giốc, chủy, vũ) và 12 luật của âm nhạc cổ. Thẩm Quát đời Bắc Tống, trong Mộng Khê bút đàm, giải thích thứ tự nạp âm bằng phép "cách bát tương sinh" của nhạc luật. Ai đặt ra hệ thống và vào lúc nào thì không rõ; các tên hình tượng (Hải Trung Kim, Lô Trung Hỏa...) được giải thích trong sách đời sau, như Tam mệnh thông hội.
Dùng ở đâu
- Tử Vi: cục ngũ hành lấy từ nạp âm của can chi cung Mệnh (can cung tính bằng Ngũ hổ độn): Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục, Hỏa lục cục. Số cục quyết định vị trí sao Tử Vi. Xem Cục ngũ hành Tử Vi.
- Dân gian: xem "mệnh" theo năm sinh, hợp tuổi, chọn màu (xem Mệnh theo năm sinh và Màu hợp mệnh).
- Luận mệnh cổ: lối luận mệnh gắn với Lý Hư Trung đời Đường lấy năm sinh và nạp âm làm trung tâm; từ Từ Tử Bình đời Tống, Bát Tự chuyển sang lấy can ngày làm gốc, nạp âm chỉ còn vai phụ.
Chỗ hay hiểu nhầm
- Nạp âm không phải hành của can năm. Năm Giáp Tý: can Giáp hành Mộc, nhưng nạp âm là Kim.
- Tên hình tượng thường không làm đổi luật sinh khắc trong các phép tính chuẩn. Chuyện "Sa Trung Kim không sợ Hỏa", "Thiên Thượng Hỏa không sợ Thủy" là lối luận thêm của một số sách, các thầy không thống nhất.
- Không nhầm với Nạp Giáp, là phép gán can chi cho quẻ Dịch.
Xem thêm Thiên Can Địa Chi là gì và Âm dương ngũ hành là gì.