Nạp Giáp (納甲, "thu nạp can Giáp") là phép gán mười thiên can và mười hai địa chi vào tám quẻ đơn và sáu hào của mỗi quẻ kép. Chữ "Giáp" đứng đại diện cho cả mười can. Nhờ Nạp Giáp, một quẻ Dịch có thể "đọc" được bằng ngôn ngữ can chi và ngũ hành.
Nguồn gốc
Hệ thống Nạp Giáp đầy đủ sớm nhất còn lại gắn với Kinh Phòng (77–37 TCN), nhà Dịch học đời Tây Hán, qua sách Kinh thị Dịch truyện. Có thể ý tưởng có từ trước ông, nhưng Kinh Phòng là người để lại hệ thống hoàn chỉnh. Đến Đông Hán, Ngụy Bá Dương trong Chu Dịch Tham Đồng Khế giải thích phần can bằng tuần trăng ("nguyệt thể nạp giáp"): trăng non mồng ba hiện ở phương Canh ứng Chấn, rằm tròn ở phương Giáp ứng Càn, cuối tháng tối ở phương Ất ứng Khôn. Khảm và Ly là Mặt Trăng, Mặt Trời, nên giữ Mậu, Kỷ ở trung tâm.
Bảng nạp can
| Quái | Can | Ghi chú |
|---|---|---|
| Càn | Giáp (quẻ dưới), Nhâm (quẻ trên) | Càn nạp hai can |
| Khôn | Ất (quẻ dưới), Quý (quẻ trên) | Khôn nạp hai can |
| Cấn | Bính | |
| Đoài | Đinh | |
| Khảm | Mậu | |
| Ly | Kỷ | |
| Chấn | Canh | |
| Tốn | Tân |
Càn, Khôn là cha mẹ nên ôm cả đầu (Giáp, Ất) lẫn cuối (Nhâm, Quý) dãy can. Sáu quẻ con mỗi quẻ một can.
Bảng nạp chi cho sáu hào
Quẻ dương (Càn, Chấn, Khảm, Cấn) xếp chi thuận, cách một chi; quẻ âm (Khôn, Tốn, Ly, Đoài) xếp nghịch. Ba chi đầu cho quẻ dưới (hào 1–3), ba chi sau cho quẻ trên (hào 4–6).
| Quái | Hào 1–3 (nội quái) | Hào 4–6 (ngoại quái) |
|---|---|---|
| Càn | Tý, Dần, Thìn | Ngọ, Thân, Tuất |
| Chấn | Tý, Dần, Thìn | Ngọ, Thân, Tuất |
| Khảm | Dần, Thìn, Ngọ | Thân, Tuất, Tý |
| Cấn | Thìn, Ngọ, Thân | Tuất, Tý, Dần |
| Khôn | Mùi, Tỵ, Mão | Sửu, Hợi, Dậu |
| Tốn | Sửu, Hợi, Dậu | Mùi, Tỵ, Mão |
| Ly | Mão, Sửu, Hợi | Dậu, Mùi, Tỵ |
| Đoài | Tỵ, Mão, Sửu | Hợi, Dậu, Mùi |
Ví dụ quẻ Thuần Càn: sáu hào từ dưới lên là Giáp Tý, Giáp Dần, Giáp Thìn, Nhâm Ngọ, Nhâm Thân, Nhâm Tuất.
Dùng ở đâu
- Lục hào (bốc Dịch, Hỏa Châu Lâm): đây là chỗ dùng chính. Mỗi hào có chi, từ chi ra ngũ hành, so với hành của "cung" quẻ để định lục thân (Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Tử Tôn, Thê Tài, Quan Quỷ). Không có Nạp Giáp thì không có lục hào.
- Phong thủy: một số phái Lý Khí dùng các nhóm "Càn nạp Giáp", "Khôn nạp Ất"... để gom 24 sơn trên la bàn thành nhóm (xem Nhị thập tứ sơn).
- Nghiên cứu Tứ Hóa: bài Tứ Hóa có "hàm số" không thử dùng Nạp Giáp để chiếu mười can lên vòng 12 cung và đo xem khớp bao nhiêu với bảng Hóa Lộc.
Trang Kinh Dịch của Huyền hiện gieo và giải quẻ theo lời kinh, chưa dùng Nạp Giáp hay lục hào.
Chỗ hay hiểu nhầm
- Nạp Giáp không phải phần của Chu Dịch gốc. Kinh văn và Thập Dực không nói tới. Đây là lớp tượng số đời Hán chồng lên sau.
- Không nhầm với nạp âm. Nạp âm gán ngũ hành cho 60 cặp can chi; Nạp Giáp gán can chi cho quẻ. Hai thứ khác hẳn nhau.
- Mậu, Kỷ không "mất". Nhiều người thấy 24 sơn la bàn thiếu Mậu, Kỷ rồi nghĩ Nạp Giáp cũng bỏ hai can này. Thực ra trong Nạp Giáp, Mậu thuộc Khảm, Kỷ thuộc Ly.
Xem thêm Bát quái tiên thiên và hậu thiên, Thiên Can Địa Chi là gì và Lạc Thư.