Hóa Lộc ở cung Phu Thê nghĩa là quan hệ đôi lứa là chỗ "thông" của lá số: dễ mở lòng, dễ gặp người hợp, và người phối ngẫu thường mang lại một nguồn lực nào đó. Nó không phải lời hứa duyên đẹp hay lấy được người giàu. Quan hệ bền hay không còn tùy sao mang Lộc, sao ấy sáng hay tối, có Kỵ, Không Kiếp, Tuần Triệt đi cùng không, và đại hạn đang đi đến đâu. Bài này đi qua từng lớp, kèm số liệu đếm trên 262.980 lá số và hai lá số giả định do bộ lập lá số của trang an ra.
Bản chất chung của Lộc xem ở bài Hóa Lộc là gì; bài đôi là Hóa Kỵ ở cung Phu Thê.
Hóa Lộc ở cung Phu Thê nghĩa là gì, và không nghĩa là gì
Phu Thê là cung của quan hệ đôi lứa; Hóa Lộc là "nguồn lực, cơ duyên, thứ tự nhiên chảy đến". Ghép lại, Lộc ở Phu Thê thường được đọc theo ba hướng:
- Mình dễ thuận trong quan hệ: ít đòi hỏi gay gắt, biết hưởng cái tốt của người kia.
- Người phối ngẫu "có lộc": tính dễ chịu, tài, quan hệ hoặc điều kiện vật chất, tùy sao mang Lộc.
- Hôn nhân mở ra nguồn lực: Phu Thê xung chiếu Quan Lộc, nên có lối đọc là lập gia đình xong thì đường nghề cũng thuận hơn.
Những gì Lộc ở Phu Thê không nói:
- Không nói "duyên đẹp trọn đời". Lộc là cửa mở, không phải bảo hành.
- Không nói "lấy người giàu". Chỉ Vũ Khúc Lộc, Thái Âm Lộc nghiêng rõ về tiền, và cũng chỉ là nghiêng.
- Không nói "đào hoa". Đếm bằng code, cung Phu Thê có Lộc gặp Đào Hoa ở 8,3% trường hợp, gặp Hồng Loan 8,4%, đúng bằng tỉ lệ nền 1/12. Lộc và sao đào hoa không kéo nhau.
Mặt trái sách hay nhắc: duyên dễ thì dễ có người để ý, được chiều thì dễ ỷ lại. Phái Phi Tinh nói "Lộc là nhân, Kỵ là quả".
Theo sao mang Lộc: mười kiểu Lộc ở Phu Thê
Sao mang Lộc quyết định Lộc là thứ gì. Bảng theo cột Lộc của bảng Tứ Hóa các can mà trang lập lá số Tử Vi dùng; cột hãm lấy từ bảng độ sáng của trang (mười sao này không có ô "bình", nên cung nào không hãm thì là miếu hoặc đắc).
| Can năm | Sao Hóa Lộc | Hãm ở | Lộc ở Phu Thê thường được đọc là |
|---|---|---|---|
| Giáp | Liêm Trinh | Mão, Dậu, Tỵ, Hợi | Quan hệ nồng, người kia giỏi giao tế; cần ranh giới rõ |
| Ất | Thiên Cơ | Dần, Hợi | Gặp nhau qua học, qua việc; người kia nhanh trí |
| Bính | Thiên Đồng | Ngọ, Dậu, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi | Êm, được chiều; có khi đến sau một lần trắc trở |
| Đinh | Thái Âm | Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ | Dịu, chu đáo, tích lũy và nhà cửa chung |
| Mậu | Tham Lang | Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Tỵ, Hợi | Sức hút mạnh, vui, hưởng thụ; dễ có người để ý |
| Kỷ | Vũ Khúc | Tỵ, Hợi | Người kia thực tế, giỏi tiền; thương bằng việc làm |
| Canh | Thái Dương | Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý | Người kia cởi mở, có tiếng, bận việc ngoài |
| Tân | Cự Môn | Sửu, Thìn, Tỵ, Mùi, Tuất | Nói chuyện được với nhau; lời nói thành lộc |
| Nhâm | Thiên Lương | Tỵ, Dậu, Hợi | Người kia chín chắn, che chở, có thể hơn tuổi |
| Quý | Phá Quân | Dần, Mão, Tỵ, Thân, Dậu, Hợi | Quan hệ mới sau khi đổi cũ; hai hoàn cảnh khác nhau |
Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thất Sát không bao giờ Hóa Lộc, nhưng có thể đi cùng sao Lộc: Tham Lang Lộc cùng Tử Vi ở Mão, Dậu; Vũ Khúc Lộc cùng Thiên Phủ ở Tý, Ngọ; Liêm Trinh Lộc cùng Thiên Tướng ở Tý, Ngọ. Thiên Phủ là "kho", nên Vũ Phủ có Lộc ở Phu Thê hay được đọc là hôn nhân có nền vật chất.
Hai trường hợp cần đọc kỹ. Thái Dương Lộc, Thái Âm Lộc gắn với giới: sách xưa coi Thái Dương là chồng, Thái Âm là vợ, nên nữ có Thái Dương Lộc, nam có Thái Âm Lộc ở Phu Thê hay được đọc là người phối ngẫu mang phúc. Cách đọc này mang dấu ấn xã hội cũ, nên nghe như gợi ý, không phải quy luật. Thiên Lương Lộc thì gây tranh cãi: có thầy cho rằng Lộc kéo Lương vào chuyện lợi, có thầy vẫn coi là tốt.
Sáng hay tối: độ sáng sao mang Lộc
Quan niệm chung của sách Việt: sao miếu vượng hóa Lộc thì Lộc có gốc, bền; sao hãm hóa Lộc thì lộc mỏng, đến rồi dễ đi, hoặc phải qua vất vả mới hưởng. Trong mẫu, cứ ba người có Lộc ở Phu Thê thì khoảng một người có Lộc bám sao hãm (34,9%).
Hai thái cực: Thái Dương Lộc hãm ở Tuất, Hợi, Tý, người kia tốt bụng mà vất vả, quan hệ ấm mà mệt; và Vũ Khúc Lộc miếu cùng Thiên Phủ ở Tý, Ngọ, thế sách khen nhất cho vợ chồng cùng làm kinh tế.
Bảng độ sáng có tranh cãi giữa các nguồn, nhất là Thiên Cơ ở Tý, Sửu, Ngọ, Thìn, Mùi, Tuất; trang này theo bảng Học viện Lý số và đánh dấu các ô lệch. Xem Miếu vượng đắc hãm.
Lộc ở Phu Thê gặp Lộc Tồn, Hóa Kỵ, Không Kiếp, Tuần Triệt
Lộc Tồn đồng cung (song Lộc). Thế lộc dày: vừa có lộc đến, vừa có lộc giữ. Nhưng Lộc Tồn luôn kéo Kình Dương vào Huynh Đệ và Đà La vào Tử Tức, nên hôn nhân vững mà hai cung bên cạnh chịu sát tinh. Ví dụ 1 dưới đây rơi đúng thế này.
Hóa Kỵ đồng cung. Chỉ xảy ra ở năm Ất (Cơ Âm ở Dần, Thân), Kỷ (Văn Khúc đóng cùng Vũ Khúc) và Tân (Văn Xương đóng cùng Cự Môn). Đọc là được và vướng buộc vào nhau: quan hệ cho nhiều mà cũng đòi hỏi nhiều.
Địa Không, Địa Kiếp. Truyền thống đọc là có duyên mà khó giữ trọn, hoặc thuận về tình mà hao về của chung. Có thầy đọc mềm hơn: Không Kiếp làm Lộc nghiêng về tinh thần hơn vật chất. Xem Địa Không, Địa Kiếp.
Tuần, Triệt. Theo quan niệm phổ biến, cát tinh gặp không vong khó hưởng trọn; trang này coi Triệt nặng ở tiền vận, Tuần nặng ở hậu vận. Nhiều thầy đọc Lộc Phu Thê gặp Triệt là duyên đến muộn hoặc qua một lần lỡ. Xem Tuần Triệt trong Tử Vi.
Quyền, Khoa trong tam phương (Thiên Di, Phúc Đức, Quan Lộc) cho Lộc thêm sức nắm và tiếng tốt.
Lộc từ Quan Lộc chiếu sang, và Phu Thê vô chính diệu
Lộc ở Quan Lộc xung chiếu Phu Thê thường được đọc ngược chiều: công việc thuận làm nhà êm, hoặc gặp người phối ngẫu qua công việc.
Hóa Lộc luôn bám một chính tinh, nên cung vô chính diệu không bao giờ có Hóa Lộc sinh niên. Phu Thê trống chính tinh thì mượn sao cung đối diện (xem Mệnh vô chính diệu). 3,2% lá số có Phu Thê trống trong khi Quan Lộc có Lộc: Lộc được "mượn" về, nhẹ hơn và đến qua đường công việc.
Đại hạn và lưu niên: khi nào Lộc nổi lên, năm 2027
Lộc gốc là cấu trúc cả đời; đại hạn và lưu niên cho biết lúc nào nó rõ hơn:
- Đại hạn đi qua chính cung Phu Thê: mười năm Lộc gốc đứng ngay cung hạn.
- Lộc đại hạn rơi vào Phu Thê. Trên chín đại hạn đầu, trung bình mỗi lá số chỉ có 0,75 lần như vậy, và chỉ khoảng 40% lá số gặp ít nhất một lần trong các đại hạn bắt đầu trước 60 tuổi. Trùng sao với Lộc gốc thì gọi là song Lộc theo lớp.
- Kỵ đại hạn rơi trúng Lộc gốc: cái thuận cũ cần giữ kỹ hơn.
Năm 2027 Đinh Mùi: lưu Lộc là Thái Âm (lưu Quyền Thiên Đồng, lưu Khoa Thiên Cơ, lưu Kỵ Cự Môn, lưu Lộc Tồn ở Ngọ). Ai có Thái Âm ở Phu Thê (1/12 lá số) thì năm 2027 Phu Thê nhận lưu Lộc; trong số đó Thái Âm miếu 43%, đắc 17%, hãm 39%. Người tuổi Đinh (1977, 1987, 1997) có Thái Âm Lộc ở Phu Thê thì năm 2027 thành song Lộc cùng sao, cùng cung. Thái Âm và Cự Môn luôn cách hai cung, nên lưu Lộc và lưu Kỵ năm nay không bao giờ đồng cung hay xung nhau. Xem Tứ Hóa lưu niên.
Hai lá số mẫu chạy bằng code
Hai lá số giả định, không phải người thật; mọi vị trí sao, độ sáng và Tứ Hóa các lớp do hàm lập lá số của trang tính ra.
Ví dụ 1: Vũ Phủ miếu có song Lộc ở Phu Thê, gặp Địa Kiếp
Nữ, sinh 2/4/1989 giờ Mùi, tức ngày 26 tháng Hai năm Kỷ Tỵ; Kim Tứ Cục, Âm Nữ, đại hạn đi thuận.
- Phu Thê ở Ngọ: Vũ Khúc (miếu) Hóa Lộc, Thiên Phủ (miếu), Lộc Tồn, Địa Kiếp, Đào Hoa. Kình Dương ở Huynh Đệ, Đà La ở Tử Tức.
- Quan Lộc ở Tý (xung chiếu): Thất Sát (miếu), Thiên Khôi. Thiên Di ở Dần: Liêm Trinh (miếu). Phúc Đức ở Tuất: Tử Vi, Thiên Tướng, Hồng Loan, có Tuần.
- Mệnh ở Thân: Tham Lang (đắc) Hóa Quyền, bị Triệt.
Đọc: tài tinh Vũ Khúc gặp Lộc, đứng cạnh kho Thiên Phủ, thêm Lộc Tồn: thế sách coi là hôn nhân có nền, người phối ngẫu thực tế, biết lo kinh tế. Nhưng Địa Kiếp nằm ngay trong cung, nên lối đọc truyền thống là của chung có lúc hao bất ngờ, cần minh bạch tiền bạc giữa hai người. Đào Hoa trong cung chỉ nói sức hút, không nói "lăng nhăng".
Theo thời gian: đại hạn 34–43 ở Điền Trạch (can Ất) cho Lộc vào Thiên Cơ ở Phụ Mẫu, Kỵ vào Nhật Nguyệt ở Huynh Đệ, sát bên Phu Thê; không lớp nào chạm thẳng Phu Thê. Năm 2027 (39 tuổi âm), lưu Lộc Thái Âm cũng vào Huynh Đệ, còn lưu Lộc Tồn rơi đúng Phu Thê ở Ngọ: kho gốc thêm một lớp kho. Năm hợp để cùng sắp xếp tài chính chung.
Ví dụ 2: Thái Dương hãm hóa Lộc ở Phu Thê, gặp Địa Kiếp và Tuần
Nam, sinh 21/11/1990 giờ Hợi, tức ngày mùng 5 tháng Mười năm Canh Ngọ; Hỏa Lục Cục, Dương Nam, đại hạn đi thuận.
- Phu Thê ở Tuất: Thái Dương (hãm) Hóa Lộc, Địa Kiếp, Thiên Riêu, có Tuần; cung Thân cũng ở đây.
- Quan Lộc ở Thìn (xung chiếu): Thái Âm (hãm) Hóa Khoa, Linh Tinh. Thiên Di ở Ngọ: Cự Môn (miếu), bị Triệt.
- Mệnh ở Tý: Thiên Cơ (đắc), Hỏa Tinh, Địa Không. Hóa Kỵ ở Thiên Đồng, cùng Lộc Tồn và Thiên Mã tại Tài Bạch.
Đọc: Thái Dương ở Tuất là mặt trời đã lặn, nên đây là kiểu Lộc "ấm mà mỏng": người phối ngẫu tốt bụng, cho nhiều, nhưng vất vả và ít được thấy. Thái Dương ở Tuất, Thái Âm ở Thìn cùng hãm là thế Nhật Nguyệt phản bối, ở đây nằm trên trục Phu Thê – Quan Lộc: chuyện nhà và chuyện nghề soi vào nhau, cùng phải tự lực. Địa Kiếp và Tuần khiến lối đọc truyền thống nghiêng về "duyên đến muộn, có lỡ rồi mới thành". Cung Thân đóng tại Phu Thê nên Lộc ở đây nặng ký hơn bình thường (xem Mệnh và Thân).
Theo thời gian: đại hạn 46–55 ở Quan Lộc (can Canh) cho Thái Dương hóa Lộc lần nữa, rơi đúng Phu Thê: song Lộc theo lớp. Có điều Tuần vẫn nằm trong cung, mà trang coi Tuần nặng ở hậu vận, nên lộc mười năm ấy dày nhưng hay bị ngắt quãng. Năm 2027 (38 tuổi âm), đại hạn 36–45 ở Điền Trạch (can Kỷ) đưa Lộc vào Vũ Khúc ở Tử Tức; lưu Lộc Thái Âm vào Quan Lộc, chiếu thẳng sang Phu Thê; lưu Kỵ Cự Môn vào Thiên Di, cung tam hợp của Phu Thê.
Số liệu: Lộc ở Phu Thê gặp những gì
Mẫu: mọi ngày dương lịch từ 1/1/1950 đến 31/12/2009, đủ 12 giờ, nam nữ xen kẽ, tổng 262.980 lá số, an bằng hàm lapLaSo của trang.
| Chỉ số | Tỉ lệ |
|---|---|
| Lá số có Hóa Lộc sinh niên ở Phu Thê | 8,33% |
| Theo can: cao nhất / thấp nhất | Canh 9,6% / Nhâm 7,2% |
| Sao mang Lộc miếu / đắc / hãm | 45,9% / 19,2% / 34,9% |
| Song Lộc đồng cung | 8,8% |
| Lộc Tồn ở Quan Lộc chiếu sang | 10,2% |
| Lộc và Kỵ sinh niên đồng cung | 3,4% |
| Có Địa Không hoặc Địa Kiếp | 15,0% |
| Có Tuần / có Triệt | 16,7% / 16,4% |
| Có Quyền hoặc Khoa trong tam phương / đủ Tam Hóa | 63% / 17% |
| Có Đào Hoa / có Hồng Loan | 8,3% / 8,4% |
Từ dòng thứ ba là tỉ lệ trong số lá số có Lộc ở Phu Thê. Dòng cuối cho thấy đọc Lộc Phu Thê thành "nhiều người theo" là quá chữ.
Muốn biết Lộc của mình ở đâu, lập lá số ở trang Tử Vi. Lộc ở các cung khác: Hóa Lộc ở cung Mệnh, Hóa Lộc ở cung Tài Bạch, Hóa Lộc ở cung Thiên Di. Mọi diễn giải là truyền thống tham khảo; chuyện hôn nhân thật cần hai người nói chuyện với nhau, khi cần thì hỏi người tư vấn có chuyên môn.
Câu hỏi thường gặp
Hóa Lộc ở cung Phu Thê có tốt không?
Thường được đọc là quan hệ đôi lứa thuận, người phối ngẫu mang lại nguồn lực. Tốt đến đâu còn tùy sao mang Lộc sáng hay tối (khoảng 35% là sao hãm), và có Không Kiếp, Tuần Triệt, Hóa Kỵ đi cùng không.
Hóa Lộc ở Phu Thê có phải lấy được vợ giàu, chồng giàu?
Không. Chỉ Vũ Khúc Lộc và Thái Âm Lộc nghiêng rõ về tiền, và cũng chỉ nói người kia thực tế, giỏi lo; các sao khác cho lộc dạng khác như sự dễ chịu, quan hệ, tiếng tăm.
Thái Âm hóa Lộc ở cung Phu Thê là sao?
Người sinh năm Đinh có Thái Âm hóa Lộc. Ở Phu Thê, thường đọc là người phối ngẫu dịu, chu đáo, hôn nhân thiên về tích lũy, nhà cửa chung. Thái Âm sáng ở Thân đến Tý, hãm từ Dần đến Ngọ. Năm 2027 lưu Lộc cũng là Thái Âm, nên người tuổi Đinh có thế này được song Lộc.
Phu Thê có Hóa Lộc và Lộc Tồn đồng cung thì sao?
Đó là song Lộc ở Phu Thê, gặp ở khoảng 0,7% lá số, được coi là hôn nhân có nền vững. Lưu ý Lộc Tồn luôn kéo Kình Dương vào Huynh Đệ và Đà La vào Tử Tức.
Hóa Lộc ở Phu Thê gặp Hóa Kỵ có xấu không?
Lộc Kỵ đồng cung chỉ xảy ra với người sinh năm Ất, Kỷ, Tân, đọc là được và vướng đi cùng nhau. Không phải dấu hiệu tan vỡ; cần xem độ sáng và đại hạn.
Năm nào thì Lộc ở Phu Thê rõ nhất?
Đại hạn đi qua chính cung Phu Thê, đại hạn có Lộc rơi vào Phu Thê, và năm lưu Lộc vào Phu Thê hoặc Quan Lộc (năm 2027 là cung có Thái Âm). Đó là lúc thuận để vun vén, không phải lời hứa sẽ cưới.