Sao Cự Môn ở Phu Thê thường được đọc là một quan hệ nhiều trao đổi, nhiều tranh luận: bạn đời có chính kiến, nói thẳng, hay soi xét. Theo cách an sao, Cự Môn ở Phu Thê thì Mệnh luôn có Thiên Lương: người hay khuyên bảo đi cùng người hay chất vấn. Cự Môn không phải "sao cãi nhau". Nó là sao của lời nói và sự đào sâu; lời ấy thành hiểu nhau hay thành vết xước tùy hai người nói với nhau thế nào.
Bài này đi sâu hơn mục ngắn trong bài Cự Môn thủ Mệnh. Mọi bảng tính bằng hàm của trang lập lá số Tử Vi, kiểm trên 86.400 lá số mẫu. Cùng loạt: Thái Âm ở Phu Thê, Thiên Lương ở Phu Thê.
Cự Môn ở cung Phu Thê nói gì về người bạn đời
Cự Môn hành Âm Thủy, hóa khí là Ám: cái bóng che, cái chưa nói hết. Ở Phu Thê, sách tả ba lớp:
- Người phối ngẫu sắc sảo, giỏi lý lẽ, nói có trọng lượng, đôi khi khó tính hoặc đa nghi.
- Quan hệ sống bằng đối thoại. Mặt tốt là không giấu nhau; mặt cần giữ là lời lúc nóng dễ để lại vết.
- Bóng của Cự Môn: hiểu lầm, chuyện chưa nói rõ, có khi là người thứ ba trong câu chuyện như gia đình hai bên.
Nhiều sách khuyên người có Cự Môn ở Phu Thê lấy muộn hoặc chọn người chênh tuổi. Ý của lời khuyên là cần độ chín để lời nói thành đối thoại chứ không thành tranh thắng thua. Đó là gợi ý, không phải luật về tuổi.
Cặp Mệnh – Phu Thê: người Mệnh Thiên Lương (Thiên Lương thủ Mệnh) thích che chở, thích dạy. Bạn đời mang màu Cự Môn thì thích hỏi lại, thích lý lẽ. Một bên khuyên, một bên vặn: nhà sẽ nhiều tranh luận. Tranh luận không xấu; thiếu tôn trọng khi tranh luận mới xấu.
Bảng 12 vị trí: đồng cung, xung chiếu, tam hợp và Mệnh
Mệnh luôn ở Phu Thê + 2; Quan Lộc đối diện Phu Thê; Phúc Đức và Thiên Di là tam hợp (Tam phương tứ chính trong Tử Vi).
| Phu Thê | Độ sáng | Đồng cung | Quan Lộc (xung chiếu) | Phúc Đức · Thiên Di (tam hợp) | Mệnh khi đó |
|---|---|---|---|---|---|
| Tý | Miếu | một mình | Ngọ: Thiên Cơ (đắc) | Thìn: Thái Dương · Thân: trống | Dần: Thiên Đồng (miếu), Thiên Lương (miếu) |
| Sửu | Hãm | Thiên Đồng (hãm) | Mùi: trống | Tỵ: Thiên Cơ · Dậu: trống | Mão: Thái Dương (miếu), Thiên Lương (miếu) |
| Dần | Miếu | Thái Dương (miếu) | Thân: trống | Ngọ: trống · Tuất: trống | Thìn: Thiên Cơ (miếu), Thiên Lương (miếu) |
| Mão | Miếu | Thiên Cơ (miếu) | Dậu: trống | Mùi: trống · Hợi: Thiên Đồng | Tỵ: Thiên Lương (hãm) |
| Thìn | Hãm | một mình | Tuất: Thiên Đồng (hãm) | Thân: trống · Tý: Thái Dương | Ngọ: Thiên Lương (miếu) |
| Tỵ | Hãm | một mình | Hợi: Thái Dương (hãm) | Dậu: Thiên Đồng · Sửu: Thiên Cơ | Mùi: Thiên Lương (đắc) |
| Ngọ | Miếu | một mình | Tý: Thiên Cơ (đắc) | Tuất: Thái Dương · Dần: trống | Thân: Thiên Đồng (miếu), Thiên Lương (miếu) |
| Mùi | Hãm | Thiên Đồng (hãm) | Sửu: trống | Hợi: Thiên Cơ · Mão: trống | Dậu: Thái Dương (hãm), Thiên Lương (hãm) |
| Thân | Đắc | Thái Dương (hãm) | Dần: trống | Tý: trống · Thìn: trống | Tuất: Thiên Cơ (miếu), Thiên Lương (miếu) |
| Dậu | Miếu | Thiên Cơ (miếu) | Mão: trống | Sửu: trống · Tỵ: Thiên Đồng | Hợi: Thiên Lương (hãm) |
| Tuất | Hãm | một mình | Thìn: Thiên Đồng (hãm) | Dần: trống · Ngọ: Thái Dương | Tý: Thiên Lương (miếu) |
| Hợi | Đắc | một mình | Tỵ: Thái Dương (miếu) | Mão: Thiên Đồng · Mùi: Thiên Cơ | Sửu: Thiên Lương (đắc) |
Quan hệ cố định rút từ bảng:
- Mệnh luôn có Thiên Lương, và người Thiên Lương thủ Mệnh luôn có Cự Môn ở Phu Thê.
- Hai cung giáp luôn là Tham Lang (phía Tử Tức) và Thiên Tướng (phía Huynh Đệ).
- Tam phương của Phu Thê rất "thưa". Ngoài Cự Môn, ba cung còn lại chỉ có thể là Thiên Cơ, Thái Dương, Thiên Đồng hoặc trống. Riêng Cự Nhật ở Dần, Thân, cả Quan Lộc lẫn hai cung tam hợp đều trống: mọi sức nặng dồn vào chính cung Phu Thê.
Độ sáng theo dữ liệu trang: miếu ở Tý, Ngọ, Dần, Mão, Dậu; đắc ở Thân, Hợi; hãm ở Sửu, Mùi, Thìn, Tuất, Tỵ.
Đọc theo từng bố cục đồng cung
Cự Môn một mình
Ở Tý, Ngọ Cự Môn miếu, đối diện Thiên Cơ đắc, Mệnh là Đồng Lương miếu. Khi ở Mệnh, thế này được gọi là "Thạch trung ẩn ngọc" (ngọc trong đá). Ở Phu Thê, sách đọc bạn đời có chiều sâu, lúc đầu khó gần, về sau càng quý. Ở Thìn, Tuất Cự hãm, đối diện Thiên Đồng hãm: hay vướng hiểu lầm vặt, cần nói rõ hơn mức mình nghĩ là đủ. Ở Tỵ Cự hãm đối Thái Dương hãm; ở Hợi Cự đắc đối Thái Dương miếu. Cùng một trục mà ánh sáng ngược nhau: Hợi có mặt trời soi bóng Cự Môn, Tỵ thì không.
Cự Nhật ở Dần, Thân
Ở Dần cả hai miếu: bạn đời thẳng, sáng sủa, nói ra là làm. Ở Thân Cự đắc, Thái Dương hãm: lời nhiều hơn việc, cần kiên nhẫn. Mệnh lúc này là Cơ Lương miếu: người khéo khuyên, giỏi tính. Như đã nói, đây là thế cả tam phương của Phu Thê trống trừ chính nó.
Cơ Cự ở Mão, Dậu
Cả hai miếu. Bạn đời thông minh, giỏi phân tích, nhanh miệng. Quan hệ dễ thành cuộc đấu trí; chọn những trận không cần thắng sẽ nhẹ nhà. Mệnh là Thiên Lương hãm (Tỵ, Hợi), nên chính người này dễ ôm lo chuyện người khác.
Đồng Cự ở Sửu, Mùi
Cả hai hãm. Thiên Đồng muốn yên, Cự Môn muốn nói: quan hệ hay giận dỗi, im lặng rồi bùng. Sách cũ đánh giá thấp thế này, nhưng cái cần chỉ là cách nói khi buồn. Mệnh là Nhật Lương: ở Mão đều miếu, ở Dậu đều hãm.
Cự Môn ở Phu Thê gặp Tứ Hóa
Cự Môn hóa Lộc với can Tân, hóa Quyền với can Quý, hóa Kỵ với can Đinh. Bản chất từng Hóa xem Tứ Hóa trong Tử Vi.
| Can năm | Hóa ở Phu Thê | Thường được đọc là |
|---|---|---|
| Tân | Cự Môn Lộc (Cự Nhật có thêm Thái Dương Quyền) | Lời nói thành lợi thế, đối thoại sinh ra cơ hội |
| Quý | Cự Môn Quyền | Bạn đời có tiếng nói quyết định, lý lẽ có sức nặng |
| Đinh | Cự Môn Kỵ (Đồng Cự có thêm Thiên Đồng Quyền, Cơ Cự có Thiên Cơ Khoa) | Hiểu lầm, nghi ngờ, lời qua tiếng lại |
| Giáp, Canh | Cự Nhật: Thái Dương Kỵ (Giáp), Lộc (Canh) | Người kia bận rộn bên ngoài, hoặc được việc |
| Ất, Mậu | Cơ Cự: Thiên Cơ Lộc (Ất), Kỵ (Mậu) | Tính toán trong quan hệ |
| Bính, Canh | Đồng Cự: Thiên Đồng Lộc (Bính), Kỵ (Canh) | Muốn yên mà khó yên |
Kỵ ở Quan Lộc xung sang: Thiên Cơ Kỵ (Mậu) khi Phu Thê ở Tý, Ngọ; Thiên Đồng Kỵ (Canh) khi ở Thìn, Tuất; Thái Dương Kỵ (Giáp) khi ở Tỵ, Hợi. Tuổi Đinh nên đọc kỹ bài Hóa Kỵ ở cung Phu Thê, vì Cự Môn Kỵ là kiểu Kỵ "lời nói" điển hình.
Lộc Tồn, sát tinh và Đào Hồng
Lộc Tồn. Code cho những thế Lộc Tồn đáng chú ý:
- Dậu, tuổi Tân: Cơ Cự miếu, Cự Môn Lộc và Lộc Tồn cùng cung, song Lộc ở Phu Thê.
- Ngọ, tuổi Đinh: Cự Môn miếu hóa Kỵ ngồi cùng Lộc Tồn; Thiên Cơ Khoa ở Quan Lộc chiếu sang. Có cái vướng, có cái giữ, có lối gỡ.
- Tý, tuổi Quý: Cự Môn Quyền và Lộc Tồn.
- Thân, tuổi Canh: Cự Nhật với Thái Dương Lộc và Lộc Tồn.
Sát tinh. Thế nặng nhất code tìm được là Mùi, tuổi Đinh: Đồng Cự đều hãm, Cự Môn Kỵ, Thiên Đồng Quyền và Kình Dương cùng một cung. Sách sẽ đọc là va chạm lời nói dễ thành căng thẳng thật. Đọc thực tế: đây là lá số rất cần quy ước "không nói lúc nóng". Tỵ, tuổi Đinh có Cự Môn Kỵ cùng Đà La: hiểu lầm dai, lâu gỡ. Gặp Hỏa, Linh thì lời nóng hơn; gặp Không, Kiếp thì sách nói hay hụt kỳ vọng. Cách an Kình Đà xem Kình Dương, Đà La.
Đào Hồng. Đào Hoa ngồi cùng Cự Môn khi Phu Thê ở Tý (tuổi Hợi, Mão, Mùi), Ngọ (Tỵ, Dậu, Sửu), Mão (Dần, Ngọ, Tuất), Dậu (Thân, Tý, Thìn). Cả bốn đều là chỗ Cự Môn miếu, nên đây là sức hút có chiều sâu, kiểu "nói chuyện cuốn". Hồng Loan ở Phu Thê theo cặp: Tý – tuổi Mão, Sửu – Dần, Dần – Sửu, Mão – Tý, Thìn – Hợi, Tỵ – Tuất, Ngọ – Dậu, Mùi – Thân, Thân – Mùi, Dậu – Ngọ, Tuất – Tỵ, Hợi – Thìn. Xem Thiên Mã, Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ.
Đại hạn đi qua cung Phu Thê
Đại hạn chỉ đi qua Phu Thê khi lá số đi nghịch (âm nam, dương nữ): đó là đại hạn thứ ba, bắt đầu từ 22 đến 26 tuổi tùy cục. Người đi thuận gần như không tới Phu Thê; trục hôn nhân của họ được chiếu mạnh khi đại hạn vào Phúc Đức (thứ ba) và Quan Lộc (thứ năm). Xem Đại hạn, tiểu hạn, lưu niên trong Tử Vi.
Can cung Phu Thê (theo ngũ hổ độn) quyết định Hóa của đại hạn. Ba can hóa Cự Môn (Đinh, Tân, Quý) đều là can âm, mà cung dương luôn mang can dương. Vậy Cự Môn ở cung dương không bao giờ tự hóa khi đại hạn tới Phu Thê; chỉ Thái Dương đồng cung ở Dần, Thân nhận Hóa.
| Hóa đại hạn | Phu Thê tại (tuổi sinh) |
|---|---|
| Cự Môn hóa Lộc (cung can Tân) | Sửu, Mão (Bính, Tân); Tỵ (Ất, Canh); Mùi (Giáp, Kỷ); Dậu (Mậu, Quý); Hợi (Đinh, Nhâm) |
| Cự Môn hóa Quyền (can Quý) | Sửu, Mão (Đinh, Nhâm); Tỵ (Bính, Tân); Mùi (Ất, Canh); Dậu (Giáp, Kỷ); Hợi (Mậu, Quý) |
| Cự Môn hóa Kỵ (can Đinh) | Sửu, Mão (Giáp, Kỷ); Tỵ (Mậu, Quý); Mùi (Đinh, Nhâm); Dậu (Bính, Tân); Hợi (Ất, Canh) |
| Sao đồng cung | Thái Dương Lộc: Dần (Bính, Tân), Thân (Mậu, Quý). Thái Dương Kỵ: Dần (Mậu, Quý), Thân (Ất, Canh). Thiên Cơ Lộc: Mão (Mậu, Quý), Dậu (Ất, Canh). Thiên Cơ Khoa: Mão (Giáp, Kỷ), Dậu (Bính, Tân). Thiên Đồng Quyền: Sửu (Giáp, Kỷ), Mùi (Đinh, Nhâm) |
Chỗ đáng để ý: Phu Thê ở Mùi, tuổi Đinh (âm nam). Cự Môn đã hóa Kỵ gốc, đại hạn Phu Thê lại can Đinh: Kỵ chồng Kỵ đúng tuổi lập gia đình. Đó là mười năm nên học cách nói với nhau, không phải mười năm phải tránh cưới.
Theo năm: 2027 Đinh Mùi cho Cự Môn lưu Kỵ với mọi lá số; 2031 Tân Hợi lưu Lộc, 2033 Quý Sửu lưu Quyền. Năm 2026 Bính Ngọ có Thiên Đồng lưu Lộc (với Đồng Cự) và Thiên Cơ lưu Quyền (với Cơ Cự). Xem Tứ Hóa lưu niên và đại hạn.
Đọc cho tỉnh táo, và so với lá số người kia
- Luyện cách nói, không đổ cho sao. Hỏi lại trước khi kết luận, nói về việc chứ không nói về người, hẹn lại khi đang nóng.
- Đừng đọc một ô. Cự Môn cần ánh sáng: xem Thái Dương ở đâu, sáng hay tối, có Hóa Lộc, Khoa soi không, có Tuần Triệt không.
- So với người thật. Trang so hai lá số có mục "Phu Thê soi Mệnh": người kia có Cự Môn thủ Mệnh thì lá số đang tả đúng người ấy. Đó là cách lượng hóa của trang, không phải luật cổ thư.
Những diễn giải trong bài là truyền thống tham khảo. Khi xung đột thật sự nặng nề, hãy tìm chuyên gia tư vấn hôn nhân.
Câu hỏi thường gặp
Cự Môn ở cung Phu Thê có phải vợ chồng hay cãi nhau?
Sách tả quan hệ nhiều tranh luận, bạn đời nói thẳng. Đó là xu hướng, không phải án. Nhiều cặp có Cự Môn ở Phu Thê rất hợp nhau vì nói chuyện được với nhau; chỗ cần giữ là lời lúc nóng.
Cự Môn ở Phu Thê thì Mệnh có sao gì?
Luôn có Thiên Lương: một mình, hoặc cùng Thiên Đồng, Thái Dương, Thiên Cơ. Một người thích khuyên bảo đi cùng một người thích chất vấn.
Cự Môn hóa Kỵ ở Phu Thê nghĩa là gì?
Người sinh năm Đinh có Cự Môn hóa Kỵ. Ở Phu Thê thường đọc là dễ hiểu lầm, nghi ngờ, lời qua tiếng lại. Cách dùng hữu ích: nói chậm, hỏi lại, đừng đoán ý. Không phải dấu hiệu ly hôn.
Cự Môn ở Phu Thê có nên lấy muộn không?
Nhiều sách khuyên vậy hoặc khuyên chọn người chênh tuổi. Nên hiểu là cần độ chín trong cách nói chuyện, không phải phải chờ đến một tuổi nào đó.
Cự Nhật ở Phu Thê tốt không?
Cự Nhật ở Dần cả hai sao miếu, sách khen: bạn đời thẳng thắn, sáng sủa. Ở Thân, Thái Dương hãm, lời nhiều hơn việc. Cả hai thế đều có tam phương của Phu Thê trống, nên phải đọc kỹ chính cung.
Năm 2027 Cự Môn ở Phu Thê có sao không?
Năm Đinh Mùi 2027 có Cự Môn lưu Kỵ, nên với người có Cự Môn ở Phu Thê đây là năm nên để ý cách nói với nhau. Đó là lời nhắc vun đắp, không phải điềm báo.