Sao Thái Âm ở Phu Thê thường được đọc là người bạn đời dịu, kín, chu đáo, hướng về nhà, và một mối quan hệ nặng về cảm nhận hơn lời nói. Theo cách an sao, Thái Âm ở Phu Thê thì cung Mệnh luôn có Cự Môn: một người sống bằng lời, đi cùng một người sống bằng cảm xúc. Trăng sáng hay tối, đi cùng sao nào, gặp Hóa gì sẽ đổi sắc thái. Lá số chỉ chỉ ra xu hướng và chỗ cần chăm, không thay được việc hai người hiểu nhau.
Bài này đi sâu hơn mục ngắn trong bài Thái Âm thủ Mệnh. Mọi bảng tính bằng hàm của trang lập lá số Tử Vi, kiểm trên 86.400 lá số mẫu. Cùng loạt: Cự Môn ở Phu Thê, Thiên Lương ở Phu Thê.
Thái Âm ở cung Phu Thê nói gì về người bạn đời
Thái Âm hành Âm Thủy, hóa khí là Phú: sự tích lũy, nhà cửa, cái kho ngầm. Trong quan hệ, tính "trăng" ấy hiện ra theo ba lớp, có thể cùng lúc:
- Người phối ngẫu. Sách tả người tinh tế, nhạy cảm, giỏi vun vén, coi trọng tổ ấm. Mặt kia là hay để bụng, khó đoán khi buồn.
- Cách quan hệ vận hành. Nhịp chậm, cần cảm giác an toàn. Điều quan trọng thường không được nói thẳng mà được "gửi" qua cử chỉ.
- Kỳ vọng của chính mình. Mong một mái nhà yên, một người biết lắng nghe.
Theo quy ước truyền thống, Thái Âm tượng vợ (với nam) và tượng mẹ. Vì thế sách coi Thái Âm ở Phu Thê của nam là "đúng chỗ". Với nữ, sách hay tả người chồng hiền, thiên về gia đình hơn tranh đua. Quy ước này ra đời trong xã hội khác ngày nay, nên đọc như vai trò trong quan hệ hơn là giới tính.
Điểm đáng giá nhất nằm ở cặp Mệnh – Phu Thê. Người Mệnh Cự Môn hay chất vấn, nói thẳng, soi kỹ (Cự Môn thủ Mệnh). Bạn đời mang tính trăng thì im lặng và tích lại. Chỗ cần chăm không phải "hợp hay khắc", mà là: lời của người này có đến được người kia không.
Bảng 12 vị trí: đồng cung, xung chiếu, tam hợp và Mệnh
Phu Thê là cung thứ ba đếm nghịch từ Mệnh, nên Mệnh luôn ở Phu Thê + 2. Quan Lộc đối diện Phu Thê (xung chiếu), Phúc Đức và Thiên Di là hai cung tam hợp. Khái niệm xem Tam phương tứ chính trong Tử Vi; bậc độ sáng xem Miếu vượng đắc hãm.
| Phu Thê | Độ sáng | Đồng cung | Quan Lộc (xung chiếu) | Phúc Đức · Thiên Di (tam hợp) | Mệnh khi đó |
|---|---|---|---|---|---|
| Tý | Miếu | Thiên Đồng (miếu) | Ngọ: trống | Thìn: Thiên Cơ, Thiên Lương · Thân: trống | Dần: Thái Dương (miếu), Cự Môn (miếu) |
| Sửu | Đắc | Thái Dương (đắc) | Mùi: trống | Tỵ: Thiên Lương · Dậu: trống | Mão: Thiên Cơ (miếu), Cự Môn (miếu) |
| Dần | Hãm | Thiên Cơ (hãm) | Thân: trống | Ngọ: Thiên Lương · Tuất: Thiên Đồng | Thìn: Cự Môn (hãm) |
| Mão | Hãm | một mình | Dậu: Thiên Đồng (hãm) | Mùi: Thiên Lương · Hợi: Thái Dương | Tỵ: Cự Môn (hãm) |
| Thìn | Hãm | một mình | Tuất: Thái Dương (hãm) | Thân: Thiên Đồng, Thiên Lương · Tý: Thiên Cơ | Ngọ: Cự Môn (miếu) |
| Tỵ | Hãm | một mình | Hợi: Thiên Cơ (hãm) | Dậu: Thái Dương, Thiên Lương · Sửu: trống | Mùi: Thiên Đồng (hãm), Cự Môn (hãm) |
| Ngọ | Hãm | Thiên Đồng (hãm) | Tý: trống | Tuất: Thiên Cơ, Thiên Lương · Dần: trống | Thân: Thái Dương (hãm), Cự Môn (đắc) |
| Mùi | Đắc | Thái Dương (đắc) | Sửu: trống | Hợi: Thiên Lương · Mão: trống | Dậu: Thiên Cơ (miếu), Cự Môn (miếu) |
| Thân | Miếu | Thiên Cơ (miếu) | Dần: trống | Tý: Thiên Lương · Thìn: Thiên Đồng | Tuất: Cự Môn (hãm) |
| Dậu | Miếu | một mình | Mão: Thiên Đồng (đắc) | Sửu: Thiên Lương · Tỵ: Thái Dương | Hợi: Cự Môn (đắc) |
| Tuất | Miếu | một mình | Thìn: Thái Dương (miếu) | Dần: Thiên Đồng, Thiên Lương · Ngọ: Thiên Cơ | Tý: Cự Môn (miếu) |
| Hợi | Miếu | một mình | Tỵ: Thiên Cơ (miếu) | Mão: Thái Dương, Thiên Lương · Mùi: trống | Sửu: Thiên Đồng (hãm), Cự Môn (hãm) |
Bốn quan hệ cố định rút ra từ bảng, đúng ở mọi lá số:
- Mệnh luôn có Cự Môn. Ngược lại, người Cự Môn thủ Mệnh luôn có Thái Âm ở Phu Thê.
- Phúc Đức luôn có Thiên Lương. Cung phúc của người có Thái Âm ở Phu Thê luôn mang sao "che chở".
- Hai cung giáp Phu Thê luôn là Thiên Phủ (phía Tử Tức) và Tham Lang (phía Huynh Đệ).
- Quan Lộc trống ở sáu vị trí Thái Âm có bạn đồng cung (Tý, Sửu, Dần, Ngọ, Mùi, Thân). Khi đó trục việc – nhà dồn hết sức nặng về phía Phu Thê.
Độ sáng theo dữ liệu của trang: miếu từ Thân đến Tý, đắc ở Sửu, Mùi, hãm từ Dần đến Ngọ.
Đọc theo từng bố cục đồng cung
Đồng Âm ở Tý, Ngọ
Thiên Đồng là sao hiền, thích yên. Đồng Âm ở Phu Thê thường được đọc là quan hệ ấm, ít tranh giành. Ở Tý cả hai sao miếu, sách rất khen: bạn đời dịu dàng mà vững. Ở Ngọ cả hai hãm: tình cảm vẫn mềm nhưng dễ có những nỗi buồn không gọi tên, dễ chiều nhau quá mà né việc khó. Mệnh lúc này là Cự Nhật (Dần hoặc Thân), Quan Lộc trống.
Nhật Nguyệt ở Sửu, Mùi
Mặt trời và mặt trăng cùng một cung, cùng ở mức đắc. Sách hay đọc là người phối ngẫu có hai mặt, lúc hướng ngoại, lúc hướng nội. Mệnh là Cơ Cự đều miếu, nên người này giỏi lý lẽ; bạn đời thì cần được hiểu hơn là được thuyết phục.
Cơ Âm ở Dần, Thân
Thiên Cơ là sao tính toán, thay đổi. Cơ Âm ở Thân đều miếu: bạn đời thông minh, khéo, nhạy. Ở Dần đều hãm: nghĩ nhiều, dễ lo xa, quan hệ hay thay đổi trạng thái. Mệnh là Cự Môn đứng một mình và đều hãm (Thìn, Tuất), nên đây là bố cục cần tập nói chậm nhất.
Thái Âm một mình
Sáu vị trí này chia đôi rõ. Dậu, Tuất, Hợi trăng sáng, đối diện có Thiên Đồng, Thái Dương hoặc Thiên Cơ cũng sáng. Riêng Tuất đối Thái Dương miếu ở Thìn: trời trăng cùng sáng. Mão, Thìn, Tỵ trăng tối, sao đối diện cũng hãm. Riêng Thìn đối Thái Dương hãm ở Tuất là thế nhiều sách gọi là "Nhật Nguyệt phản bối". Đó là quan hệ phải tự vun nhiều hơn, không phải lời báo đổ vỡ; gặp Lộc, Quyền, Khoa thì đỡ hẳn.
Thái Âm ở Phu Thê gặp Tứ Hóa
Theo bảng Tứ Hóa trang dùng, Thái Âm là sao được hóa nhiều nhất: Đinh hóa Lộc, Mậu hóa Quyền, Canh và Quý hóa Khoa, Ất hóa Kỵ. Bản chất từng Hóa xem Tứ Hóa trong Tử Vi.
| Can năm | Thái Âm ở Phu Thê | Thường được đọc là |
|---|---|---|
| Đinh | Hóa Lộc | Tình cảm có duyên, người kia mang lại nguồn lực, nhà cửa |
| Mậu | Hóa Quyền | Bạn đời có tiếng nói trong việc nhà, việc tiền |
| Canh, Quý | Hóa Khoa | Quan hệ êm, có lối gỡ khi bất đồng |
| Ất | Hóa Kỵ | Để tâm nhiều, cảm xúc không nói ra, dễ thấy thiếu |
Sao đồng cung cũng mang Hóa vào Phu Thê. Tuổi Canh với Đồng Âm cho Thái Âm Khoa và Thiên Đồng Kỵ cùng một cung (can Canh là can tranh cãi nhiều nhất, có phái cho Thái Âm Kỵ). Tuổi Đinh với Đồng Âm cho cả Thái Âm Lộc lẫn Thiên Đồng Quyền. Tuổi Ất với Cơ Âm cho Thiên Cơ Lộc và Thái Âm Kỵ cùng chỗ: được và vướng đi kèm. Tuổi Giáp với Nhật Nguyệt cho Thái Dương Kỵ.
Kỵ ở Quan Lộc thì xung sang Phu Thê: Thiên Đồng Kỵ (Canh) khi Phu Thê ở Mão, Dậu; Thái Dương Kỵ (Giáp) khi Phu Thê ở Thìn, Tuất; Thiên Cơ Kỵ (Mậu) khi Phu Thê ở Tỵ, Hợi. Cách đọc Kỵ ở trục này đã viết kỹ ở bài Hóa Kỵ ở cung Phu Thê.
Lộc Tồn, sát tinh và Đào Hồng
Lộc Tồn. Lộc Tồn không bao giờ đóng ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Code cho vài thế đáng chú ý khi Thái Âm ở Phu Thê:
- Ngọ, tuổi Đinh: Thái Âm Lộc, Thiên Đồng Quyền và Lộc Tồn cùng một cung. Trăng hãm nhưng được bù rất nhiều.
- Mão, tuổi Ất: Lộc Tồn ngồi cùng Thái Âm Kỵ. Sách gọi là Lộc gặp Kỵ: có cái giữ được, cũng có cái vướng.
- Thân, tuổi Canh: Cơ Âm miếu, Thái Âm Khoa, Lộc Tồn tại chỗ.
- Tỵ, tuổi Mậu: Thái Âm Quyền và Lộc Tồn, nhưng Thiên Cơ Kỵ ở Quan Lộc xung sang.
Lộc Tồn luôn bị Kình Dương, Đà La kẹp hai bên.
Sát tinh. Kình Dương ngồi cùng Thái Âm ở Phu Thê khi: Thìn (tuổi Ất, cũng là năm Thái Âm Kỵ), Ngọ (Bính, Mậu), Dậu (Canh), Mão (Giáp), Mùi (Đinh, Kỷ), Tý (Nhâm), Sửu (Quý), Tuất (Tân). Trăng gặp Kình thì cái mềm dễ thành tổn thương; gặp Hỏa, Linh hay Không, Kiếp thì sách nói tình cảm dễ có quãng hụt hẫng. Đọc thực tế: cần nói ra trước khi tích thành giận.
Đào Hồng. Đào Hoa chỉ đóng ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Nó ngồi cùng Thái Âm ở Phu Thê tại Tý (tuổi Hợi, Mão, Mùi), Ngọ (Tỵ, Dậu, Sửu), Mão (Dần, Ngọ, Tuất), Dậu (Thân, Tý, Thìn). Hồng Loan vào Phu Thê theo cặp: Phu Thê Tý với tuổi Mão, Sửu – Dần, Dần – Sửu, Mão – Tý, Thìn – Hợi, Tỵ – Tuất, Ngọ – Dậu, Mùi – Thân, Thân – Mùi, Dậu – Ngọ, Tuất – Tỵ, Hợi – Thìn. Trăng sáng gặp Hồng Loan được sách đọc là duyên dịu, dễ thành. Cách an và ý nghĩa xem Thiên Mã, Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ.
Đại hạn đi qua cung Phu Thê
Đại hạn đi qua Phu Thê chỉ khi lá số đi nghịch (âm nam, dương nữ). Khi đó Phu Thê là đại hạn thứ ba, bắt đầu ở tuổi cục số + 20, tức từ 22 đến 26 tuổi tùy cục, đúng tuổi lập gia đình. Người đi thuận (dương nam, âm nữ) gần như không bao giờ tới Phu Thê (tuổi cục + 100). Với họ, đại hạn thứ ba rơi vào Phúc Đức và đại hạn thứ năm vào Quan Lộc, hai cung chiếu vào Phu Thê. Cách tính xem Đại hạn, tiểu hạn, lưu niên trong Tử Vi.
Khi đại hạn tới Phu Thê, can của chính cung ấy (an theo ngũ hổ độn) cho ra bộ Tứ Hóa của mười năm. Bảng dưới là những trường hợp Hóa rơi ngay vào sao trong Phu Thê:
| Hóa đại hạn | Phu Thê tại (tuổi sinh) |
|---|---|
| Thái Âm hóa Lộc (cung can Đinh) | Sửu, Mão (Giáp, Kỷ); Tỵ (Mậu, Quý); Mùi (Đinh, Nhâm); Dậu (Bính, Tân); Hợi (Ất, Canh) |
| Thái Âm hóa Quyền (can Mậu) | Tý, Dần (Ất, Canh); Thìn (Giáp, Kỷ); Ngọ (Mậu, Quý); Thân (Đinh, Nhâm); Tuất (Bính, Tân) |
| Thái Âm hóa Khoa (can Canh, Quý) | Tý, Dần, Tỵ (Bính, Tân); Sửu, Mão, Tuất (Đinh, Nhâm); Thìn, Mùi (Ất, Canh); Ngọ, Dậu (Giáp, Kỷ); Thân, Hợi (Mậu, Quý) |
| Thái Âm hóa Kỵ (can Ất) | Sửu, Mão (Mậu, Quý); Tỵ (Đinh, Nhâm); Mùi (Bính, Tân); Dậu (Ất, Canh); Hợi (Giáp, Kỷ) |
| Sao đồng cung | Thiên Đồng Lộc: Tý (Giáp, Kỷ), Ngọ (Đinh, Nhâm). Thiên Đồng Kỵ: Tý (Bính, Tân), Ngọ (Giáp, Kỷ). Thiên Cơ Kỵ: Dần (Ất, Canh), Thân (Đinh, Nhâm) |
Một trường hợp dễ gặp: Phu Thê ở Dậu, tuổi Ất (âm nam đi nghịch). Thái Âm vốn hóa Kỵ, đại hạn Phu Thê lại can Ất: Kỵ chồng Kỵ đúng tuổi lập gia đình. Đó là mười năm chuyện vợ chồng chiếm nhiều tâm sức, không phải mười năm phải tránh cưới.
Theo năm: năm 2027 Đinh Mùi cho Thái Âm lưu Lộc, năm 2028 Mậu Thân cho Thái Âm lưu Quyền. Cách đọc xem Tứ Hóa lưu niên và đại hạn.
Đọc cho tỉnh táo, và so với lá số người kia
- Đọc ra việc làm được. Với Thái Âm ở Phu Thê, cảm xúc là thứ cần được hỏi đến. Một câu "em đang nghĩ gì" đúng lúc có giá hơn mọi lá số.
- Không đọc một ô. Phải nhìn cả Quan Lộc đối diện, Phúc Đức có Thiên Lương, Tuần Triệt (Tuần Triệt trong Tử Vi) và đại hạn.
- Lá số người kia mới là nửa còn lại. Trang so hai lá số có mục "Phu Thê soi Mệnh": nếu người kia có Thái Âm thủ Mệnh, lá số của bạn đang tả đúng người ấy. Đó là cách lượng hóa của trang để dễ so, không phải luật của cổ thư.
Diễn giải trong bài là truyền thống tham khảo. Hôn nhân gặp khó thật thì nên hỏi chuyên gia tư vấn gia đình.
Câu hỏi thường gặp
Thái Âm ở cung Phu Thê là tốt hay xấu?
Không tốt xấu tuyệt đối. Sách tả bạn đời dịu dàng, chu đáo. Thái Âm sáng (Thân đến Tý) thì quan hệ êm hơn; tối (Dần đến Ngọ) thì nhiều nỗi niềm không nói ra, cần chủ động trò chuyện.
Thái Âm ở Phu Thê thì Mệnh có sao gì?
Luôn có Cự Môn: đứng một mình, hoặc cùng Thái Dương, Thiên Cơ, Thiên Đồng. Không có ngoại lệ.
Nam có Thái Âm ở Phu Thê nghĩa là gì?
Theo quy ước truyền thống, Thái Âm tượng vợ, nên sách coi là vị trí hợp: vợ tinh tế, giỏi vun vén. Nếu Thái Âm hóa Kỵ (tuổi Ất) thì người chồng để tâm rất nhiều vào vợ, đôi khi lo quá mức.
Thái Âm hóa Kỵ ở Phu Thê có phải ly hôn không?
Không. Kỵ là chỗ mình để tâm và dễ thấy thiếu, không phải án hôn nhân. Chỗ cần chăm là nói ra cảm xúc thay vì giữ trong lòng.
Thái Âm ở Phu Thê có phải lấy vợ chồng muộn không?
Lá số không quy định tuổi cưới. Một số sách khuyên chậm lại khi Thái Âm hãm gặp sát tinh; nên hiểu là cần thời gian để hiểu nhau, không phải định mệnh phải chờ.
Đồng Âm, Cơ Âm ở Phu Thê khác nhau thế nào?
Đồng Âm (Tý, Ngọ) thiên về ấm áp, chiều nhau. Cơ Âm (Dần, Thân) thiên về tinh tế, hay nghĩ, hay đổi trạng thái. Cả hai đều tốt hơn khi sáng (Tý, Thân) so với khi hãm (Ngọ, Dần).