Thư viện Polaris☯ Hỏi Thầy Huyền

Sao Thái Dương thủ Mệnh: miếu hãm, đồng cung, 12 vị trí

Sao Thái Dương thủ Mệnh ở 12 cung: sáng ban ngày, tối ban đêm, bảng đồng cung, xung chiếu, tam hợp tính bằng code; Tứ Hóa và Thái Dương ở cung Phu Thê.

12 phút đọc

Tranh thủy mặc mặt trời đỏ nhạt nhô lên sau rặng núi xa, mây sương vắt ngang sườn núi, một con thuyền nhỏ trên mặt sông phản chiếu ánh vàng

Sao Thái Dương thủ Mệnh là khi cung Mệnh có Thái Dương, tức mặt trời trên lá số. Thái Dương sáng ở các cung "ban ngày" từ Dần đến Ngọ, tối ở các cung "ban đêm" từ Thân đến Tý; nó đồng cung Thái Âm ở Sửu, Mùi, Cự Môn ở Dần, Thân, Thiên Lương ở Mão, Dậu, còn lại đứng một mình. Thái Dương sáng hay tối là yếu tố được sách nhắc trước tiên, nhưng chưa phải tất cả: sao đi cùng, Tứ Hóa và giờ sinh cũng được tính đến.

Bài thuộc loạt "Chính tinh thủ Mệnh". Bài trước: Sao Thiên Cơ thủ Mệnh. Cách bày 14 sao trong 12 bố cục: 12 bố cục chính tinh Tử Vi.

Sao Thái Dương là sao gì: Dương Hỏa, trung thiên, chủ về tỏa sáng

Thái Dương (太陽) và Thái Âm thường được xếp riêng là trung thiên tinh, không thuộc Bắc Đẩu hay Nam Đẩu. Khi an sao, Thái Dương thuộc chòm Tử Vi, cách Tử Vi ba cung theo chiều nghịch.

Thuộc tínhTheo trang dùngGhi chú
Ngũ hànhDương Hỏa
NhómTrung thiên tinhThuộc chòm Tử Vi khi an sao
Hóa khíQuýQuý hiển, được nhìn thấy
Chủ vềTỏa sáng ra ngoài, danh tiếng, sự hào phóng; người cha, với nữ là chồng
Tứ HóaLộc (Canh), Quyền (Tân), Kỵ (Giáp)Có bảng cho Thái Dương hóa Khoa năm Mậu; trang dùng Hữu Bật

Mặt thuận: quang minh, rộng rãi, cho đi không tính, được ghi nhận. Mặt nghịch: vất vả mà không ai thấy, gánh thay người khác đến mỏi, sĩ diện vì muốn "sáng". Mặt trời không chọn ai để chiếu, nên Thái Dương còn gắn với việc công, việc cho số đông.

Sao Thái Dương miếu hãm ở 12 cung

Logic của bảng Thái Dương trực quan nhất trong 14 sao: sáng theo giờ mặt trời. Cột hai là bảng trang dùng (xem Miếu vượng đắc hãm), cột ba là một bảng Trung Hoa phổ biến (bảng thư viện mã nguồn mở iztro dùng).

CungGiờ tương ứngTrang dùngMột bảng Trung Hoa
Tý23–1 giờHãmHãm
Sửu1–3 giờĐắcBất đắc địa
Dần3–5 giờMiếuVượng
Mão5–7 giờMiếuMiếu
Thìn7–9 giờMiếuVượng
Tỵ9–11 giờMiếuVượng
Ngọ11–13 giờMiếuVượng
Mùi13–15 giờĐắcĐắc
Thân15–17 giờHãmĐắc
Dậu17–19 giờHãmBình
Tuất19–21 giờHãmBất đắc địa
Hợi21–23 giờHãmHãm

Hai bảng cùng một ý, chỉ lệch ở đầu chiều (Thân, Dậu: bảng Trung Hoa còn cho chút ánh sáng, bảng Việt đã tính là tối) và ở Sửu (bảng Việt cho Đắc vì Sửu là cung Nhật Nguyệt đồng cung). Trang không đánh dấu tranh cãi ô nào của Thái Dương.

Thái Dương hãm không có nghĩa là xấu. Cách hiểu phổ biến là mặt trời lúc đêm: vẫn là mặt trời, nhưng phải làm nhiều hơn mới được thấy. Một số sách còn nói người sinh ban ngày có Thái Dương thủ Mệnh thì đỡ hơn người sinh ban đêm; điều này các phái không thống nhất.

Sao Thái Dương thủ Mệnh ở 12 cung: đồng cung, xung chiếu, tam hợp

Bảng sinh bằng code từ luật an sao của trang lập lá số Tử Vi, đã đối chiếu với hàm lập lá số trên 17.280 lá số. Ba cột cuối là Tam phương tứ chính trong Tử Vi của Mệnh; ngoặc đơn là độ sáng theo bảng trang dùng.

Mệnh tạiThái DươngTử Vi ởĐồng cungXung chiếu (Thiên Di)Tam hợp: Quan Lộc · Tài Bạch
TýHãmMãokhông cóNgọ: Thiên Lương (miếu)Thìn: Cự Môn (hãm) · Thân: trống
SửuĐắcThìnThái Âm (đắc)Mùi: trốngTỵ: Thiên Lương (hãm) · Dậu: trống
DầnMiếuTỵCự Môn (miếu)Thân: trốngNgọ: trống · Tuất: trống
MãoMiếuNgọThiên Lương (miếu)Dậu: trốngMùi: trống · Hợi: Thái Âm (miếu)
ThìnMiếuMùikhông cóTuất: Thái Âm (miếu)Thân: trống · Tý: Cự Môn (miếu)
TỵMiếuThânkhông cóHợi: Cự Môn (đắc)Dậu: Thái Âm (miếu) · Sửu: Thiên Lương (đắc)
NgọMiếuDậukhông cóTý: Thiên Lương (miếu)Tuất: Cự Môn (hãm) · Dần: trống
MùiĐắcTuấtThái Âm (đắc)Sửu: trốngHợi: Thiên Lương (hãm) · Mão: trống
ThânHãmHợiCự Môn (đắc)Dần: trốngTý: trống · Thìn: trống
DậuHãmTýThiên Lương (hãm)Mão: trốngSửu: trống · Tỵ: Thái Âm (hãm)
TuấtHãmSửukhông cóThìn: Thái Âm (hãm)Dần: trống · Ngọ: Cự Môn (miếu)
HợiHãmDầnkhông cóTỵ: Cự Môn (hãm)Mão: Thái Âm (hãm) · Mùi: Thiên Lương (đắc)

Điều bảng cho thấy:

  1. Tam phương của Mệnh Thái Dương chỉ có thể có Thái Âm, Cự Môn, Thiên Lương. Không bao giờ có Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thiên Cơ, Thiên Đồng hay Sát Phá Tham. Thái Dương là sao "ít bạn" nhất trong chòm.
  2. Rất nhiều cung trống. Ở Dần và Thân (Cự Nhật), cả Thiên Di, Quan Lộc, Tài Bạch đều vô chính diệu. Khi đó các cung trống phải mượn sao cung đối diện, nên Mệnh gần như là trung tâm duy nhất của cả bộ tam phương.
  3. Thái Dương với Thái Âm: đồng cung ở Sửu, Mùi; xung nhau ở Thìn, Tuất; tam hợp ở Mão, Dậu, Tỵ, Hợi. Ở Tý, Ngọ, Dần, Thân, Thái Âm nằm ngoài tam phương tứ chính.

Về tần suất: trong số người Mệnh Thái Dương (chạy mọi ngày 1950–2009), Mệnh tại Dậu ít nhất, chừng 5%; tại Sửu nhiều nhất, chừng 11%.

Sáu thế Thái Dương thủ Mệnh

Thái Dương ở Tý, Ngọ: đơn thủ, đối Thiên Lương

Ở Ngọ, mặt trời đứng bóng, sách gọi là Nhật lệ trung thiên, thế sáng nhất của Thái Dương. Ở Tý, mặt trời nửa đêm, hãm. Cả hai đều đối Thiên Lương miếu, tam hợp có Cự Môn. Ngọ dễ "quá sáng": nóng, thẳng, ít khoan nhượng; Tý thì nỗ lực âm thầm.

Thái Dương ở Sửu, Mùi: Nhật Nguyệt đồng cung

Mặt trời và mặt trăng chung một cung, cả hai Đắc, đối cung trống. Sách hay tả người có hai mặt cương nhu, có lúc rất hướng ngoại, có lúc rất khép kín. Tuổi Canh có Thái Dương hóa Lộc và Thái Âm hóa Khoa cùng ở Mệnh; tuổi Ất có Thái Âm hóa Kỵ đồng cung.

Thái Dương ở Dần, Thân: Cự Nhật đồng cung

Thái Dương soi vào Cự Môn, làm tan cái "ám" của Cự Môn. Ở Dần Thái Dương miếu, mặt trời đang lên; ở Thân Thái Dương hãm, mặt trời ngả chiều. Sách khen Dần hơn Thân. Như đã nói, cả tam phương tứ chính ngoài Mệnh đều trống. Thế này gắn với nghề sống bằng lời nói công khai: giảng dạy, truyền thông, luật. Tuổi Tân có Cự Môn hóa Lộc và Thái Dương hóa Quyền cùng ở Mệnh; tuổi Canh ở Thân có song Lộc (Thái Dương hóa Lộc cộng Lộc Tồn); tuổi Giáp ở Dần thì Thái Dương hóa Kỵ đồng cung Lộc Tồn.

Thái Dương ở Mão, Dậu: Nhật Lương

Ở Mão cả hai sao miếu, sách gọi là Nhật xuất phù tang (mặt trời mọc ở cây dâu thần phương Đông), còn gọi Nhật chiếu lôi môn. Ở Dậu cả hai hãm, mặt trời lặn. Thế Nhật Lương gắn với cách Dương Lương Xương Lộc: Thái Dương, Thiên Lương gặp Văn Xương và một sao Lộc, được sách coi là cách thi cử đỗ đạt. Ở Mão, tuổi Ất có Lộc Tồn đồng cung.

Thái Dương ở Thìn, Tuất: đối Thái Âm

Ở Thìn, Thái Dương miếu đối Thái Âm miếu ở Tuất: cả trời lẫn trăng đều sáng, sách rất khen. Ở Tuất, Thái Dương hãm đối Thái Âm hãm ở Thìn, sách gọi là Nhật Nguyệt phản bối (trời trăng quay lưng). Sách cũng nói phản bối mà gặp Lộc, Quyền, Khoa thì có thể "phản bối vi giai", tức trở thành tốt. Tam hợp có Cự Môn miếu ở Tý hoặc Ngọ.

Thái Dương ở Tỵ, Hợi: đơn thủ, đối Cự Môn

Ở Tỵ Thái Dương miếu, tam hợp có Thái Âm miếu và Thiên Lương đắc, đối Cự Môn đắc: một trong những thế đủ sao nhất của Thái Dương. Ở Hợi thì Thái Dương, Cự Môn, Thái Âm đều hãm. Đây là bố cục Tử Vi ở Thân, Dần.

Thái Dương gặp Tứ Hóa, Lộc Tồn, lục cát và lục sát

Theo bảng Tứ Hóa các can trang dùng:

CanThái Dương hóaHóa khác vào tam phương tứ chínhLộc Tồn đồng cung khi
CanhLộcThái Âm hóa Khoa ở 8/12 vị trí; Vũ Quyền, Đồng Kỵ không bao giờ vàoMệnh Thân
TânQuyềnCự Môn hóa Lộc ở 8/12 vị tríMệnh Dậu
GiápKỵKhông có: Liêm Lộc, Phá Quyền, Vũ Khoa đều nằm ngoàiMệnh Dần

Đọc bảng:

  • Tuổi Giáp là năm khó trên giấy: Kỵ ở Mệnh, ba hóa còn lại không về tam phương. Kỵ của Thái Dương thường được đọc là vướng chuyện danh tiếng, việc công, người cha, với nữ là chồng; cho nhiều mà ít được ghi nhận. Xem Hóa Kỵ là gì và Hóa Kỵ ở cung Mệnh.
  • Tuổi Canh thì ngược lại: Lộc ở Mệnh với mọi vị trí, kèm Khoa của Thái Âm ở nhiều vị trí. Xem Hóa Lộc là gì.
  • Tuổi Tân: Quyền ở Mệnh, Văn Xương hóa Kỵ, Văn Khúc hóa Khoa theo giờ sinh. Xem Hóa Quyền là gì.

Sách hay nói Thái Dương hãm gặp Hóa Kỵ thì nặng hơn Thái Dương miếu gặp Hóa Kỵ; và Thái Dương hãm được Lộc, Quyền thì bớt vất vả.

Về phụ tinh (xem Lục cát lục sát Tử Vi): Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt hợp với tính "quý" của Thái Dương. Kình Đà, Hỏa Linh thường được đọc là thêm nóng nảy, va chạm, tổn hao sức. Kình Dương không bao giờ đóng ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi; Đà La không bao giờ ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Không Kiếp chỉ đồng cung với nhau ở Tỵ, Hợi. Trong truyền thống còn có lời dặn Thái Dương hãm gặp sát tinh thì để ý mắt, huyết áp; đó là chuyện nên hỏi bác sĩ, không phải chuyện xem sao.

Sao Thái Dương ở cung Phu Thê

Một quy luật gọn: Thái Dương ở Phu Thê thì Thiên Cơ luôn ở Mệnh, vì Thiên Cơ cách Thái Dương đúng hai cung theo chiều thuận.

Thái Dương ở Phu Thê tạiĐồng cungMệnh ởChính tinh tại Mệnh
Tý / Ngọkhông cóDần / ThânThiên Cơ, Thái Âm
Sửu / MùiThái ÂmMão / DậuThiên Cơ, Cự Môn
Dần / ThânCự MônThìn / TuấtThiên Cơ, Thiên Lương
Mão / DậuThiên LươngTỵ / HợiThiên Cơ
Thìn / Tuấtkhông cóNgọ / TýThiên Cơ
Tỵ / Hợikhông cóMùi / SửuThiên Cơ

Cách luận phổ biến: Thái Dương ở Phu Thê gợi ý người phối ngẫu cởi mở, thích được ghi nhận, sống hướng ra ngoài. Thái Dương sáng thì người kia có vị trí, có tiếng nói; Thái Dương tối thì người kia vất vả, hoặc quan hệ cần nhiều nỗ lực để "được thấy". Với nữ, sách xưa coi Thái Dương là sao chồng, nên Thái Dương ở Phu Thê của nữ được đọc kỹ hơn. Đó là quy ước của sách cổ trong xã hội cũ; ngày nay nên hiểu là cách hai người chia vai công khai và riêng tư. Thái Dương hóa Kỵ (tuổi Giáp) ở Phu Thê: xem Hóa Kỵ ở cung Phu Thê.

Thái Dương ở Quan Lộc, Tài Bạch và nghề hợp

Ở Quan Lộc, Thái Dương thường được đọc là sự nghiệp công khai, việc phục vụ số đông, vai trò dẫn dắt; sáng thì danh rõ, tối thì làm nhiều mà ít tiếng. Ở Tài Bạch, tiền đến qua danh tiếng và quan hệ rộng, nhưng sách hay nhắc Thái Dương "tán tài": rộng tay, chi cho người khác nhiều.

Nghề thường được cho là hợp với Mệnh Thái Dương:

  • Việc công, hành chính, giáo dục, y tế cộng đồng.
  • Truyền thông, diễn thuyết, giảng dạy, nghề đứng trước đám đông.
  • Vai trò dẫn dắt nhóm, đại diện tổ chức; với Cự Nhật là nghề sống bằng lời nói.

Điểm cần giữ:

  • Cho đi có giới hạn. Mặt trời không tắt được, nhưng người thì cạn sức.
  • Đừng sống để được nhìn thấy. Thái Dương tối càng cần thước đo riêng thay cho lời khen.
  • Giữ sức khỏe đều đặn, nhất là khi công việc dồn vào giờ đêm.

Các sao cùng chòm: Sao Tử Vi thủ Mệnh, Sao Vũ Khúc thủ Mệnh, Sao Thiên Đồng thủ Mệnh, Sao Liêm Trinh thủ Mệnh.

Câu hỏi thường gặp

Sao Thái Dương thủ Mệnh có tốt không?

Thái Dương sáng (Dần đến Ngọ) thường được coi là thuận: dễ được ghi nhận, có danh. Thái Dương tối (Thân đến Tý) được đọc là vất vả hơn, làm nhiều mà ít người thấy. Nhưng còn phải xét sao đồng cung, Tứ Hóa, phụ tinh; không có kết luận tốt xấu từ một sao.

Thái Dương hãm địa ở Mệnh có sao không?

Hãm chỉ có nghĩa là Thái Dương khó tỏa sáng ở vị trí đó. Sách cho rằng Thái Dương hãm gặp Lộc, Quyền, Khoa thì bớt vất vả, và các bảng độ sáng còn lệch nhau ở Thân, Dậu. Đây là chỗ để hiểu mình, không phải để lo.

Nhật Nguyệt phản bối là gì?

Là thế Thái Dương ở Tuất (hãm) đối Thái Âm ở Thìn (hãm), cả mặt trời và mặt trăng đều tối, như quay lưng nhau. Sách nói phản bối mà gặp Hóa Lộc, Quyền, Khoa thì có thể thành tốt. Thế ngược lại, Thái Dương ở Thìn đối Thái Âm ở Tuất, cả hai đều miếu.

Cự Nhật đồng cung ở Dần hay Thân tốt hơn?

Sách thường khen Dần hơn, vì ở Dần Thái Dương miếu (mặt trời mọc), ở Thân Thái Dương hãm (mặt trời lặn). Cả hai vị trí đều có Thiên Di, Quan Lộc, Tài Bạch trống, nên Mệnh là trung tâm của cả bộ tam phương.

Sao Thái Dương ở cung Phu Thê nghĩa là gì?

Thường được đọc là người phối ngẫu cởi mở, hướng ngoại, thích được ghi nhận; Thái Dương sáng thì người kia có vị thế, tối thì vất vả hơn. Khi Thái Dương ở Phu Thê, Thiên Cơ luôn ở Mệnh. Phải xem thêm Tứ Hóa mới nói được chuyện hôn nhân.

Thái Dương hóa Kỵ năm nào?

Năm can Giáp (ví dụ 1984, 1994, 2004, âm lịch). Thái Dương hóa Lộc năm Canh và hóa Quyền năm Tân. Bảng trang dùng không có năm nào Thái Dương hóa Khoa; một số bảng khác cho Thái Dương hóa Khoa năm Mậu.

☯ Hỏi Thầy Huyền về bài này

Nội dung mang tính tham khảo và văn hoá; không phải lời khuyên để làm theo.