Sao Tử Vi thủ Mệnh nghĩa là cung Mệnh của lá số có sao Tử Vi, đế tinh đứng đầu 14 chính tinh. Tử Vi có thể đóng ở cả 12 cung; ở mỗi cung nó đi cùng một bộ sao cố định: đứng một mình ở Tý, Ngọ, đồng cung Phá Quân ở Sửu, Mùi, Thiên Phủ ở Dần, Thân, Tham Lang ở Mão, Dậu, Thiên Tướng ở Thìn, Tuất, Thất Sát ở Tỵ, Hợi. Các bảng trong bài tính bằng code an sao của trang, không chép tay.
Đây là bài mở đầu loạt "Chính tinh thủ Mệnh". Nếu chưa quen 14 chính tinh, đọc trước 14 chính tinh Tử Vi; nếu muốn hiểu vì sao chỉ có 12 thế sao, đọc 12 bố cục chính tinh Tử Vi.
Sao Tử Vi là sao gì: hành Thổ, đế tinh, chủ về ngôi vị
Tử Vi mang tên vùng trời quanh cực Bắc, nơi thiên văn cổ đặt cung điện của Thiên Đế (xem Tử Vi viên). Trên lá số, nó là đế tinh: sao vua, chủ về ngôi thứ, uy tín và khả năng điều phối người khác.
| Thuộc tính | Theo trang dùng | Ghi chú |
|---|---|---|
| Ngũ hành | Dương Thổ | Nhiều sách Trung Hoa ghi Âm Thổ |
| Nhóm | Chủ tinh của Bắc Đẩu | Có cách chia xếp Tử Vi vào nhóm "trung thiên" cùng Nhật, Nguyệt |
| Hóa khí | Tôn (tôn quý) | Có bản ghi Quý |
| Chủ về | Ngôi vị, uy tín, điều phối | |
| Tứ Hóa | Khoa (can Ất), Quyền (can Nhâm) | Không bao giờ hóa Lộc, hóa Kỵ |
Đọc cho cân bằng: Tử Vi thuận lợi thì có uy tín tự nhiên, biết dùng người, giữ được cục diện lớn. Bất lợi thì sĩ diện, ôm việc không buông, muốn được nể mà thiếu thực lực đỡ.
Điều sách xưa nhấn mạnh nhất về Tử Vi là nó cần người giúp. Tử Vi có Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc hội về thì gọi là "bách quan triều củng" (trăm quan chầu về). Tử Vi đứng trơ trọi, lại gặp sát tinh, thì bị ví như ông vua không có triều đình.
Sao Tử Vi miếu hãm ở 12 cung
Cột hai lấy đúng từ dữ liệu độ sáng của trang (nền là bảng Học viện Lý số, xem Miếu vượng đắc hãm); cột ba là một bảng Trung Hoa phổ biến (bảng thư viện mã nguồn mở iztro dùng).
| Cung | Trang dùng | Một bảng Trung Hoa |
|---|---|---|
| Tý | Đắc | Bình |
| Sửu | Đắc | Miếu |
| Dần | Miếu | Vượng |
| Mão | Bình | Vượng |
| Thìn | Miếu (có tranh cãi) | Đắc |
| Tỵ | Miếu | Vượng |
| Ngọ | Miếu | Miếu |
| Mùi | Đắc | Miếu |
| Thân | Miếu | Vượng |
| Dậu | Bình | Vượng |
| Tuất | Miếu (có tranh cãi) | Đắc |
| Hợi | Đắc | Vượng |
Ba điều đáng nói:
- Tử Vi không có cung hãm trong cả hai bảng. Thấp nhất ở bảng Việt là Bình (Mão, Dậu), ở bảng Trung Hoa là Bình (Tý).
- Thìn, Tuất là ô tranh cãi. Một nguồn Việt khác (amlich.vn) ghi Tử Vi hãm ở Thìn, Tuất, trái hẳn bảng trang dùng. Có lẽ vì Thìn, Tuất là Thiên La, Địa Võng (lưới trời, lưới đất), nơi sách cho rằng Tử Vi khó thi thố. Trang đánh dấu hai ô này trên lá số.
- Mão, Dậu bảng Việt chấm Bình, bảng Trung Hoa chấm Vượng. Đây đúng là thế Tử Tham, nơi sách Việt hay nói Tử Vi bị Tham Lang "kéo".
Độ sáng có nhiều dị bản, và phái Tứ Hóa không dùng nó; đừng dựa vào một ô để kết luận.
Sao Tử Vi thủ Mệnh ở 12 cung: đồng cung, xung chiếu, tam hợp
Bảng ghi sao đồng cung, sao ở cung đối diện (Thiên Di, gọi là xung chiếu) và sao ở hai cung tam hợp (Quan Lộc, Tài Bạch); bốn cung này là Tam phương tứ chính trong Tử Vi. Ngoặc đơn là độ sáng theo bảng trang dùng. Bảng sinh bằng code từ luật an sao của trang lập lá số Tử Vi, đã đối chiếu với hàm lập lá số trên 17.280 lá số thử, không lệch trường hợp nào.
| Mệnh tại | Tử Vi | Đồng cung | Xung chiếu (Thiên Di) | Tam hợp: Quan Lộc · Tài Bạch |
|---|---|---|---|---|
| Tý | Đắc | không có | Ngọ: Tham Lang (hãm) | Thìn: Liêm Trinh (miếu), Thiên Phủ (miếu) · Thân: Vũ Khúc (miếu), Thiên Tướng (miếu) |
| Sửu | Đắc | Phá Quân (miếu) | Mùi: Thiên Tướng (đắc) | Tỵ: Liêm Trinh (hãm), Tham Lang (hãm) · Dậu: Vũ Khúc (đắc), Thất Sát (hãm) |
| Dần | Miếu | Thiên Phủ (miếu) | Thân: Thất Sát (miếu) | Ngọ: Liêm Trinh (miếu), Thiên Tướng (miếu) · Tuất: Vũ Khúc (miếu) |
| Mão | Bình | Tham Lang (hãm) | Dậu: trống | Mùi: Liêm Trinh (đắc), Thất Sát (đắc) · Hợi: Vũ Khúc (hãm), Phá Quân (hãm) |
| Thìn | Miếu | Thiên Tướng (miếu) | Tuất: Phá Quân (đắc) | Thân: Liêm Trinh (miếu) · Tý: Vũ Khúc (miếu), Thiên Phủ (miếu) |
| Tỵ | Miếu | Thất Sát (miếu) | Hợi: Thiên Phủ (đắc) | Dậu: Liêm Trinh (hãm), Phá Quân (hãm) · Sửu: Vũ Khúc (miếu), Tham Lang (miếu) |
| Ngọ | Miếu | không có | Tý: Tham Lang (hãm) | Tuất: Liêm Trinh (miếu), Thiên Phủ (miếu) · Dần: Vũ Khúc (miếu), Thiên Tướng (miếu) |
| Mùi | Đắc | Phá Quân (miếu) | Sửu: Thiên Tướng (đắc) | Hợi: Liêm Trinh (hãm), Tham Lang (hãm) · Mão: Vũ Khúc (đắc), Thất Sát (hãm) |
| Thân | Miếu | Thiên Phủ (miếu) | Dần: Thất Sát (miếu) | Tý: Liêm Trinh (miếu), Thiên Tướng (miếu) · Thìn: Vũ Khúc (miếu) |
| Dậu | Bình | Tham Lang (hãm) | Mão: trống | Sửu: Liêm Trinh (đắc), Thất Sát (đắc) · Tỵ: Vũ Khúc (hãm), Phá Quân (hãm) |
| Tuất | Miếu | Thiên Tướng (miếu) | Thìn: Phá Quân (đắc) | Dần: Liêm Trinh (miếu) · Ngọ: Vũ Khúc (miếu), Thiên Phủ (miếu) |
| Hợi | Đắc | Thất Sát (miếu) | Tỵ: Thiên Phủ (đắc) | Mão: Liêm Trinh (hãm), Phá Quân (hãm) · Mùi: Vũ Khúc (miếu), Tham Lang (miếu) |
Mười hai vị trí không gặp đều nhau. Chạy lá số cho mọi ngày từ 1950 đến 2009, trong số người Mệnh Tử Vi, chỉ chừng 5% có Mệnh tại Tý, trong khi chừng 11% có Mệnh tại Thìn (Tỵ, Mão, Dần, Ngọ cũng trên 10%).
Đọc bảng sẽ thấy ba quy luật cứng, đúng ở mọi lá số:
- Tử Vi thủ Mệnh thì Liêm Trinh luôn ở Quan Lộc, Vũ Khúc luôn ở Tài Bạch. Lý do: ba sao Tử, Vũ, Liêm cách nhau đúng bốn cung.
- Tam phương của Mệnh Tử Vi không bao giờ có Thiên Cơ, Thái Dương, Thiên Đồng, Thái Âm, Cự Môn, Thiên Lương. Chỉ có tám sao họ Tử Phủ và Sát Phá Tham.
- Hai họ rõ rệt. Tử Vi ở cung dương (Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất) thì tam phương có Thiên Phủ, Thiên Tướng: khí chất vững, tổ chức. Tử Vi ở cung âm (Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi) thì tam phương có đủ Sát, Phá, Tham: khí chất động, nhiều đổi thay.
Sáu thế Tử Vi thủ Mệnh
Mỗi thế gồm hai cung đối nhau, cấu trúc y hệt.
Tử Vi ở Tý, Ngọ: đứng một mình, đối Tham Lang
Không có chính tinh đồng cung, Thiên Di có Tham Lang hãm, tam hợp có đủ Liêm Phủ và Vũ Tướng. Thế ở Ngọ được sách gọi là Cực hướng Ly minh (sao Cực hướng về phương Ly sáng), coi là thế đẹp nhất của Tử Vi; ở Tý độ sáng chỉ Đắc. Sách Đẩu Số khen Tử Vi cư Ngọ không gặp Hình, Kỵ, và nhắc riêng các tuổi Giáp, Đinh, Kỷ. Tính ra thì thấy vì sao: tuổi Đinh, Kỷ có Lộc Tồn đóng ngay Ngọ; tuổi Giáp có Liêm Trinh hóa Lộc ở Quan Lộc (Tuất) và Vũ Khúc hóa Khoa ở Tài Bạch (Dần); tuổi Kỷ thêm Vũ Khúc hóa Lộc ở Tài Bạch.
Tử Vi ở Sửu, Mùi: Tử Phá
Đế tinh đi cùng sao phá cũ lập mới, đối diện Thiên Tướng. Người có thế này hay được mô tả là có khí phách, muốn làm theo ý mình, đời có những lần đập đi xây lại. Đây cũng là thế duy nhất mà Tả Phù, Hữu Bật hoặc Văn Xương, Văn Khúc có thể cùng lúc cả cặp đóng ngay trong Mệnh với Tử Vi, vì hai cặp sao này chỉ đồng cung với nhau ở Sửu và Mùi.
Tử Vi ở Dần, Thân: Tử Phủ đồng cung
Vua và kho cùng một chỗ, cả hai miếu, đối diện Thất Sát miếu. Bố cục này phủ kín 12 cung. Sách coi Tử Phủ là thế vững, nhưng cũng cảnh báo: hai sao "tôn" ngồi chung dễ thành bảo thủ, cần thêm cát tinh mới trọn. Tuổi Giáp có Lộc Tồn ở Dần, tuổi Canh có Lộc Tồn ở Thân.
Tử Vi ở Mão, Dậu: Tử Tham
Tham Lang hãm ngồi cùng đế tinh, Thiên Di trống, tam hợp có Liêm Sát và Vũ Phá. Sách gọi là Đào hoa phạm chủ: sao đào hoa lấn vào sao chủ. Sách cũ còn nói Tử Vi ở Mão, Dậu dễ có khuynh hướng thoát tục, tu hành. Đọc rộng ra: hai lực kéo ngược nhau, ham sống và muốn buông.
Tử Vi ở Thìn, Tuất: Tử Tướng
Đế tinh đi cùng ấn tinh, đối diện Phá Quân. Đây là ô tranh cãi độ sáng nói ở trên. Một chi tiết tính được: Thiên Khôi, Thiên Việt và Lộc Tồn không bao giờ đóng ở Thìn, Tuất, nên Tử Tướng không thể có ba sao này đồng cung; chúng chỉ chiếu về từ cung khác.
Tử Vi ở Tỵ, Hợi: Tử Sát
Đế tinh cầm quân. Sách có câu Tử Vi gặp Thất Sát thì "hóa sát vi quyền", biến cái dữ của Thất Sát thành quyền lực. Thế này có tam hợp Vũ Tham miếu và Liêm Phá hãm, đối diện Thiên Phủ. Bố cục Tử Vi ở Tỵ, Hợi trống tới bốn cung.
Tử Vi gặp Tứ Hóa, Lộc Tồn, lục cát và lục sát
Tử Vi chỉ nhận hai hóa, theo Tứ Hóa các can mà trang dùng:
| Can năm | Tử Vi hóa | Đi kèm trong tam phương | Lộc Tồn |
|---|---|---|---|
| Ất | Hóa Khoa | Không hóa nào khác vào tam phương (Cơ Lộc, Lương Quyền, Âm Kỵ đều nằm ngoài) | Ở Mão: đồng cung khi Mệnh Tử Tham Mão |
| Nhâm | Hóa Quyền | Vũ Khúc hóa Kỵ luôn ở Tài Bạch | Ở Hợi: đồng cung khi Mệnh Tử Sát Hợi |
Tuổi Nhâm là trường hợp đáng nhớ: Quyền ở Mệnh, Kỵ ở Tài Bạch, xảy ra với mọi vị trí Tử Vi. Nghĩa thường gặp là có quyền, có tiếng nói nhưng tiền bạc là chỗ phải để tâm. Xem thêm Hóa Quyền là gì và Hóa Khoa là gì.
Tử Vi không hóa Lộc, nên Lộc của Mệnh Tử Vi đến từ sao đi cùng: tuổi Giáp có Liêm Trinh hóa Lộc ở Quan Lộc, tuổi Kỷ có Vũ Khúc hóa Lộc ở Tài Bạch (đúng với mọi vị trí); tuổi Quý có Phá Quân hóa Lộc (đồng cung nếu là Tử Phá); tuổi Mậu có Tham Lang hóa Lộc (đồng cung nếu là Tử Tham). Lộc Tồn đóng cùng Tử Vi được ở tám cung, trừ Sửu, Mùi, Thìn, Tuất. Chi tiết về hai loại lộc ở Hóa Lộc là gì.
Kỵ chỉ đến qua sao đi cùng: Liêm Trinh (tuổi Bính) ở Quan Lộc, Tham Lang (tuổi Quý), hoặc Văn Xương, Văn Khúc (tuổi Tân, Kỷ). Xem Hóa Kỵ ở cung Mệnh.
Về phụ tinh (xem Lục cát lục sát Tử Vi):
- Lục cát là thứ Tử Vi cần nhất. Tả Hữu, Khôi Việt, Xương Khúc hội về Mệnh, nhất là đủ cặp, được sách gọi bằng những tên như "quân thần khánh hội".
- Kình Dương không bao giờ đóng ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi; Đà La không bao giờ ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Vậy Tử Phủ và Tử Sát không thể có Kình đồng cung; Tử Vi ở Tý, Ngọ và Tử Tham không thể có Đà đồng cung.
- Địa Không, Địa Kiếp chỉ đồng cung với nhau ở Tỵ, Hợi, tức thế Tử Sát (khi sinh giờ Tý hoặc giờ Ngọ).
- Sách cho rằng Tử Vi chế được phần nào Hỏa Tinh, Linh Tinh. Nhưng Tử Vi thiếu cát mà nhiều sát thì bị gọi là "cô quân": có ngôi mà không có người giúp, dễ nóng nảy, đơn độc.
Sao Tử Vi ở cung Phu Thê
Khi Tử Vi ở Phu Thê, Mệnh nằm ở cung thứ hai đếm thuận từ đó, và chỉ có thể là một trong năm sao hoặc trống:
| Tử Vi ở Phu Thê tại | Đồng cung | Mệnh ở | Chính tinh tại Mệnh |
|---|---|---|---|
| Tý / Ngọ | không có | Dần / Thân | Phá Quân |
| Sửu / Mùi | Phá Quân | Mão / Dậu | Thiên Phủ |
| Dần / Thân | Thiên Phủ | Thìn / Tuất | Tham Lang |
| Mão / Dậu | Tham Lang | Tỵ / Hợi | Thiên Tướng |
| Thìn / Tuất | Thiên Tướng | Ngọ / Tý | Thất Sát |
| Tỵ / Hợi | Thất Sát | Mùi / Sửu | vô chính diệu |
Cách luận phổ biến: Tử Vi ở Phu Thê gợi ý người phối ngẫu có cá tính, có chính kiến, coi trọng thể diện và vị trí của mình trong nhà. Mặt tốt là có chỗ dựa; mặt cần giữ là chuyện ai quyết, ai nhường. Tử Phá, Tử Tham ở Phu Thê hay bị sách cũ gán chuyện tình cảm nhiều biến động; nên đọc đó là xu hướng cần nói chuyện rõ ràng, không phải lời phán. Một chính tinh không nói được chuyện hôn nhân; phải xem cả Tứ Hóa, nhất là Hóa Kỵ (xem Hóa Kỵ ở cung Phu Thê).
Tử Vi ở Quan Lộc, Tài Bạch và nghề nghiệp
Ở Quan Lộc, Tử Vi thường được đọc là sự nghiệp gắn với vai trò chủ trì, có danh phận; hợp nơi có thứ bậc rõ. Ở Tài Bạch, tiền bạc đi qua vị thế và uy tín, người ta đến với mình vì tin mình; nhưng Tử Vi không phải tài tinh, nên chuyện giữ tiền còn tùy Vũ Khúc, Thiên Phủ ở đâu.
Với người Mệnh Tử Vi, nghề nghiệp thường được cho là hợp:
- Quản lý, điều hành, chủ trì dự án, chức danh có trách nhiệm rõ.
- Nghề cần uy tín và danh phận: hành chính, tổ chức, đại diện.
- Tự làm chủ, với điều kiện có cộng sự giỏi (Tả Hữu của đời thật).
Điểm cần giữ:
- Học cách nhờ người. Ngoài đời, "bách quan triều củng" là biết giao việc và lắng nghe.
- Tách sĩ diện khỏi quyết định. Mặt yếu kinh điển của Tử Vi là giữ thể diện mà lỡ việc.
- Đừng tự coi mình là "số vua". Đúng một phần mười hai lá số có Tử Vi ở Mệnh, tức cứ mười hai người thì có một.
Các sao cùng chòm có bài riêng: Sao Thiên Cơ thủ Mệnh, Sao Thái Dương thủ Mệnh, Sao Vũ Khúc thủ Mệnh, Sao Thiên Đồng thủ Mệnh, Sao Liêm Trinh thủ Mệnh.
Câu hỏi thường gặp
Sao Tử Vi thủ Mệnh có tốt không?
Tử Vi là đế tinh và không có cung hãm, nên thường được coi là sao vững. Nhưng sách nhấn mạnh Tử Vi cần cát tinh hội về; Tử Vi đơn độc gặp sát tinh thì dễ thành người có ngôi mà không có người giúp. Tốt hay không còn tùy cả lá số.
Tử Vi ở cung nào là đẹp nhất?
Sách hay khen Tử Vi ở Ngọ (Cực hướng Ly minh) và Tử Phủ ở Dần, Thân. Theo bảng trang dùng, Tử Vi miếu ở Dần, Thân, Thìn, Tuất, Tỵ, Ngọ. Riêng Thìn, Tuất có nguồn ghi hãm, nên đó là ô còn tranh cãi.
Tử Vi đồng cung với sao nào?
Tử Vi chỉ đồng cung với năm chính tinh: Phá Quân (Sửu, Mùi), Thiên Phủ (Dần, Thân), Tham Lang (Mão, Dậu), Thiên Tướng (Thìn, Tuất), Thất Sát (Tỵ, Hợi). Ở Tý, Ngọ Tử Vi đứng một mình. Không có thế nào Tử Vi đi cùng Thiên Cơ, Thái Dương hay Thiên Đồng.
Tử Vi hóa Lộc vào năm nào?
Không năm nào. Theo bảng Tứ Hóa trang dùng, Tử Vi chỉ hóa Khoa (can Ất) và hóa Quyền (can Nhâm). Đây là điểm các bảng Tứ Hóa phổ biến đều giống nhau.
Sao Tử Vi ở cung Phu Thê nghĩa là gì?
Cách đọc phổ biến là người phối ngẫu có cá tính, coi trọng vị thế, có thể là chỗ dựa. Điều cần giữ là phân vai trong nhà cho rõ. Một chính tinh không quyết định hôn nhân; phải xem cả Tứ Hóa và phụ tinh ở Phu Thê.
Tử Vi thủ Mệnh làm nghề gì hợp?
Thường được cho là hợp vai trò điều hành, quản lý, nghề cần uy tín và danh phận, hoặc tự làm chủ khi có cộng sự tốt. Đây là gợi ý theo tính chất sao, không thay cho năng lực và hoàn cảnh thật của mỗi người.