Thư viện Polaris☯ Hỏi Thầy Huyền

Sao Thiên Cơ ở cung Phu Thê: 12 vị trí, Tứ Hóa, đại hạn

Sao Thiên Cơ ở cung Phu Thê nói gì về tình duyên? Bảng 12 vị trí tính bằng code: miếu hãm, đồng cung, xung chiếu, tam hợp, Mệnh; Tứ Hóa, sát tinh, đại hạn.

10 phút đọc

Tranh thủy mặc hai người ngồi đối diện bên bàn cờ dưới mái hiên, ngoài trời mưa bụi và một cành trúc nghiêng trong gió

Sao Thiên Cơ ở cung Phu Thê thường được đọc là người bạn đời nhanh trí, nhạy, nói chuyện hợp; quan hệ sống động nhưng hay đổi trạng thái, và dễ sinh nghi ngại vì cả hai nghĩ nhiều. Thiên Cơ ở Phu Thê thuộc trọn họ Cơ Nguyệt Đồng Lương: tam phương của cung chỉ có Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương, Cự Môn, và một nửa số trường hợp Mệnh là vô chính diệu. Bài này tính đủ 12 vị trí bằng code an sao của trang, rồi đi qua Tứ Hóa, sát tinh, đào hoa và đại hạn.

Bài Sao Thiên Cơ thủ Mệnh có mục ngắn về chuyện này; ở đây ta đọc đủ tam phương tứ chính của Phu Thê.

Thiên Cơ ở Phu Thê nói gì về người bạn đời

Thiên Cơ hành Mộc, hóa khí là Thiện, chủ về trí tuệ, tính toán và thay đổi. Ở Phu Thê, cách luận phổ biến mô tả:

  • Người kia khéo, lanh, nhiều ý. Hai người dễ có chuyện để nói, hợp nhau ở đầu óc.
  • Quan hệ hay chuyển pha. Thân rồi xa, xa rồi thân; có thể có giai đoạn ở hai nơi vì việc.
  • Nghĩ nhiều hơn nói. Sự nghi ngại thường không đến từ chuyện thật mà từ suy đoán.

Quy luật cấu trúc: Thiên Cơ ở Phu Thê thì Thiên Đồng luôn ở Thiên Di (hai sao cách nhau bốn cung): Phu Thê "lý trí" luôn có một Thiên Đồng "an nhàn" chiếu về. Tam phương của Phu Thê không bao giờ có sao họ Tử Phủ, Sát Phá Tham, cũng không có Thái Dương.

Bảng 12 vị trí: độ sáng, đồng cung, xung chiếu, tam hợp và Mệnh

Bảng sinh bằng code an sao của trang lập lá số Tử Vi, đối chiếu với hàm lập lá số trên 57.600 lá số thử, không lệch. Ngoặc đơn là độ sáng theo bảng trang dùng (xem Miếu vượng đắc hãm); dấu * là ô có nguồn ghi khác.

Phu Thê tạiThiên CơĐồng cungXung chiếu: Quan LộcTam hợp: Thiên Di · Phúc ĐứcMệnh
TýĐắc*không cóNgọ: Cự Môn (miếu)Thân: Thiên Đồng, Thiên Lương (miếu) · Thìn: Thái Âm (hãm)Dần: vô chính diệu
SửuĐắc*không cóMùi: Thiên Lương (đắc)Dậu: Thiên Đồng (hãm) · Tỵ: Cự Môn (hãm)Mão: Thái Âm (hãm)
DầnHãmThái Âm (hãm)Thân: trốngTuất: Thiên Đồng (hãm) · Ngọ: Thiên Lương (miếu)Thìn: Cự Môn (hãm)
MãoMiếuCự Môn (miếu)Dậu: trốngHợi: Thiên Đồng (đắc) · Mùi: trốngTỵ: Thiên Lương (hãm)
ThìnMiếu*Thiên Lương (miếu)Tuất: trốngTý: Thiên Đồng, Thái Âm (miếu) · Thân: trốngNgọ: vô chính diệu
TỵMiếukhông cóHợi: Thái Âm (miếu)Sửu: Thiên Đồng, Cự Môn (hãm) · Dậu: trốngMùi: vô chính diệu
NgọĐắc*không cóTý: Cự Môn (miếu)Dần: Thiên Đồng, Thiên Lương (miếu) · Tuất: Thái Âm (miếu)Thân: vô chính diệu
MùiMiếu*không cóSửu: Thiên Lương (đắc)Mão: Thiên Đồng (đắc) · Hợi: Cự Môn (đắc)Dậu: Thái Âm (miếu)
ThânMiếuThái Âm (miếu)Dần: trốngThìn: Thiên Đồng (hãm) · Tý: Thiên Lương (miếu)Tuất: Cự Môn (hãm)
DậuMiếuCự Môn (miếu)Mão: trốngTỵ: Thiên Đồng (đắc) · Sửu: trốngHợi: Thiên Lương (hãm)
TuấtMiếu*Thiên Lương (miếu)Thìn: trốngNgọ: Thiên Đồng, Thái Âm (hãm) · Dần: trốngTý: vô chính diệu
HợiHãmkhông cóTỵ: Thái Âm (hãm)Mùi: Thiên Đồng, Cự Môn (hãm) · Mão: trốngSửu: vô chính diệu

Độ sáng Thiên Cơ là chỗ các nguồn lệch nhau nhiều nhất: amlich.vn ghi hãm ở Tý, Ngọ, Sửu, Mùi; nguồn Trung Hoa ghi Thìn, Tuất chỉ bình. Đọc bảng sẽ thấy:

  1. Sáu trên mười hai vị trí cho Mệnh vô chính diệu: Tý, Ngọ, Thìn, Tuất, Tỵ, Hợi. Sáu vị trí còn lại cho Mệnh là Thái Âm, Cự Môn hoặc Thiên Lương.
  2. Quan Lộc trống ở sáu vị trí (Dần, Thân, Mão, Dậu, Thìn, Tuất), nên Phu Thê Thiên Cơ thường "tự quyết" ý nghĩa của nó.
  3. Hai cung hãm là Dần (cùng Thái Âm hãm) và Hợi. Cơ Âm ở Dần và ở Thân là hai bức tranh trái ngược: hai sao cùng tối, hoặc cùng sáng.

Trong số người có Thiên Cơ ở Phu Thê (lá số mọi ngày 1950–2009), Mão chiếm khoảng 11%, Hợi chừng 5%.

Sáu thế Thiên Cơ ở Phu Thê

Thiên Cơ đơn thủ ở Tý, Ngọ: đối Cự Môn miếu

Quan Lộc có Cự Môn miếu, Thiên Di có Đồng Lương miếu, Phúc Đức có Thái Âm (hãm ở Thìn, miếu ở Tuất), Mệnh trống. Nhiều sao sáng; cái cần giữ là trục Cơ – Cự: hai người giỏi lý lẽ dễ biến chuyện nhỏ thành ván cờ ai đúng ai sai.

Thiên Cơ đơn thủ ở Sửu, Mùi: Mệnh là Thái Âm

Đối diện Thiên Lương đắc, Mệnh là Thái Âm (hãm ở Mão, miếu ở Dậu). Mình sống nội tâm, người kia lanh lợi; hợp nhau ở chiều sâu, nhưng mình dễ để bụng điều người kia nói vội.

Cơ Âm ở Dần, Thân: sáng tối khác hẳn nhau

Quan Lộc trống, Phúc Đức có Thiên Lương miếu, Mệnh là Cự Môn hãm. Ở Thân cả Cơ lẫn Âm miếu: người kia tinh tế, chu đáo. Ở Dần cả hai hãm: cảm xúc thất thường hơn, cần nhiều kiên nhẫn. Mệnh Cự Môn hãm nhắc chính mình cũng dễ nói lời làm người kia tổn thương.

Cơ Cự ở Mão, Dậu: hai sao miếu, giỏi lời

Hai sao cùng miếu, Quan Lộc trống, Mệnh là Thiên Lương hãm. Người kia có tài ăn nói, sắc sảo. Mặt cần giữ là tranh cãi bằng lý lẽ; một câu "anh nói đúng nhưng em vẫn buồn" nhiều khi hữu ích hơn ba lập luận.

Cơ Lương ở Thìn, Tuất: người kia như người thầy

Hai sao cùng miếu, Quan Lộc trống, Thiên Di có Đồng Âm (miếu ở Tý, hãm ở Ngọ), Mệnh trống. Thiên Lương là sao che chở: người kia chín chắn, thích khuyên bảo. Hợp khi mình cần người dẫn đường; vướng khi lời khuyên thành lời dạy.

Thiên Cơ đơn thủ ở Tỵ, Hợi: đối Thái Âm

Quan Lộc có Thái Âm (miếu ở Hợi, hãm ở Tỵ), Thiên Di có Đồng Cự hãm, Phúc Đức và Mệnh trống. Thế ít điểm tựa nhất, nên Tứ Hóa và phụ tinh quyết định nhiều.

Thiên Cơ ở Phu Thê gặp Tứ Hóa, Lộc Tồn, sát tinh, Đào Hồng

Tứ Hóa theo can năm sinh

Thiên Cơ đủ bốn hóa theo Tứ Hóa các can trang dùng:

Can nămLuôn có (cả 12 vị trí)Thêm tùy thế
ẤtThiên Cơ hóa Lộc tại Phu ThêThái Âm hóa Kỵ đồng cung nếu Cơ Âm; Thiên Lương hóa Quyền đồng cung nếu Cơ Lương
BínhThiên Cơ hóa Quyền tại Phu Thê; Thiên Đồng hóa Lộc ở Thiên Di
ĐinhThiên Cơ hóa Khoa tại Phu Thê; Thiên Đồng hóa Quyền ở Thiên DiThái Âm hóa Lộc đồng cung nếu Cơ Âm; Cự Môn hóa Kỵ đồng cung nếu Cơ Cự
MậuThiên Cơ hóa Kỵ tại Phu ThêThái Âm hóa Quyền đồng cung nếu Cơ Âm
CanhThiên Đồng hóa Kỵ ở Thiên DiThái Âm hóa Khoa đồng cung nếu Cơ Âm
Kỷ, NhâmThiên Lương hóa Khoa (Kỷ) hoặc Lộc (Nhâm) đồng cung nếu Cơ Lương
Tân, QuýCự Môn hóa Lộc (Tân) hoặc Quyền (Quý) đồng cung nếu Cơ Cự; tuổi Quý thêm Thái Âm hóa Khoa nếu Cơ Âm
GiápKhông có chính tinh nào hóa trong tam phương

Vài tổ hợp đáng nói:

  • Tuổi Ất, Cơ Âm: Lộc và Kỵ cùng cung; quan hệ mang lại nhiều, đồng thời là chỗ lo nghĩ nhiều.
  • Tuổi Mậu: Kỵ "nghĩ nhiều về nhau" ngay tại Phu Thê; xem Hóa Kỵ ở cung Phu Thê.
  • Tuổi Đinh, Cơ Cự: Khoa và Kỵ cùng cung; lời nói là chỗ vướng nhưng có lối gỡ.

Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La

An theo can năm (xem Lộc Tồn là gì, Kình Dương, Đà La). Vài tổ hợp tính được:

  • Tuổi Ất, Cơ Cự ở Mão: Lộc Tồn và Thiên Cơ hóa Lộc cùng cung (song Lộc).
  • Tuổi Mậu, Thiên Cơ ở Tỵ: Lộc Tồn đi cùng Hóa Kỵ; Thiên Cơ ở Ngọ: Kình Dương đi cùng Hóa Kỵ.
  • Tuổi Ất, Cơ Âm ở Dần: Hóa Lộc, Hóa Kỵ và Đà La cùng một cung.

Sát tinh làm cái "nghĩ nhiều" của Thiên Cơ thành căng thẳng thật hơn. Bốn sao Hỏa, Linh, Không, Kiếp an theo giờ sinh; xem Lục cát lục sát Tử Vi.

Đào Hoa, Hồng Loan

Đào Hoa chỉ đóng ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu, nên chỉ đi được với Thiên Cơ đơn thủ ở Tý, Ngọ và Cơ Cự ở Mão, Dậu. Hồng Loan đóng được mọi cung, và khi nó ở Phu Thê thì Thiên Hỷ luôn ở Quan Lộc đối diện. Bảng an theo tuổi ở Thiên Mã, Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ.

Đại hạn đi qua Phu Thê và lúc Thiên Cơ tự hóa

Tính từ code của trang:

Chiều đại hạnĐại hạn ở Phu ThêĐại hạn ở Quan LộcĐại hạn thứ ba rơi vào
Nghịch (Âm Nam, Dương Nữ)Thứ ba, từ khoảng 22–26 tuổiThứ chínChính cung Phu Thê
Thuận (Dương Nam, Âm Nữ)Thứ mười một, ngoài 100 tuổiThứ năm, khoảng 42–46 tuổiPhúc Đức, tam hợp của Phu Thê

Xem cách tính ở Đại hạn, tiểu hạn, lưu niên trong Tử Vi.

Khi đại hạn vào Phu Thê, can của cung Phu Thê làm ra Tứ Hóa đại hạn; nếu can ấy làm chính Thiên Cơ hóa, phái Phi Tinh gọi là tự hóa. Quy luật gọn: Thiên Cơ ở cung dương chỉ tự hóa Quyền hoặc Kỵ; ở cung âm chỉ tự hóa Lộc hoặc Khoa.

Thiên Cơ ở Phu Thê tạiTự hóa Quyền khi sinh nămTự hóa Kỵ khi sinh năm
Tý, DầnGiáp, KỷẤt, Canh
ThìnMậu, QuýGiáp, Kỷ
NgọĐinh, NhâmMậu, Quý
ThânBính, TânĐinh, Nhâm
TuấtẤt, CanhBính, Tân
Thiên Cơ ở Phu Thê tạiTự hóa Lộc khi sinh nămTự hóa Khoa khi sinh năm
Sửu, MãoMậu, QuýGiáp, Kỷ
TỵĐinh, NhâmMậu, Quý
MùiBính, TânĐinh, Nhâm
DậuẤt, CanhBính, Tân
HợiGiáp, KỷẤt, Canh

Chỉ người đi nghịch mới gặp đại hạn Phu Thê, nên trong mỗi cặp năm, năm âm ứng với nam, năm dương ứng với nữ. Tự hóa Kỵ là mười năm nên nói thẳng với nhau nhiều hơn, không phải mười năm phải tránh cưới.

So hai lá số: Phu Thê Thiên Cơ "soi" ai

Trang so hai lá số chấm mục "Phu Thê soi Mệnh": chính tinh ở Phu Thê người này trùng chính tinh ở Mệnh người kia. Gặp người Thiên Cơ thủ Mệnh là khớp một chiều; khớp hai chiều chỉ có ở:

Thiên Cơ ở Phu Thê mình tạiMệnh mìnhNgười kia Thiên Cơ thủ Mệnh tại
Sửu / MùiThái ÂmMão hoặc Dậu
Dần / ThânCự MônThìn hoặc Tuất
Mão / DậuThiên LươngTỵ hoặc Hợi
Tý, Ngọ, Thìn, Tuất, Tỵ, Hợivô chính diệukhông có

Nửa số người có Thiên Cơ ở Phu Thê không thể khớp hai chiều vì Mệnh trống; đó là giới hạn của cách chấm, không nói gì về hạnh phúc. Thang điểm là thiết kế của trang, không có trong cổ thư, và lá số không thay được việc hai người hiểu nhau.

Câu hỏi thường gặp

Sao Thiên Cơ ở cung Phu Thê có tốt không?

Thiên Cơ cho người bạn đời thông minh, nhanh nhạy, dễ nói chuyện. Mặt cần giữ là quan hệ hay đổi trạng thái và dễ nghi ngại. Thiên Cơ sáng (Mão, Dậu, Tỵ, Thân) thường được đọc nhẹ hơn khi hãm (Dần, Hợi).

Thiên Cơ ở Phu Thê có phải lấy vợ, lấy chồng chênh tuổi?

Một số sách cũ nói vậy, có sách còn khuyên đừng vội lập gia đình. Đó là kinh nghiệm diễn giải, không phải luật; tuổi tác hay thời điểm cưới không suy ra được từ một sao.

Thiên Cơ hóa Kỵ ở Phu Thê nghĩa là gì?

Người sinh năm Mậu có Thiên Cơ hóa Kỵ. Nếu Thiên Cơ ở Phu Thê, cách đọc phổ biến là nghĩ nhiều về nhau, dễ đổi ý, tính toán trong quan hệ. Lời khuyên thực tế là bớt phân tích, nói thẳng điều mình cần. Đó không phải dấu hiệu ly hôn.

Thiên Cơ ở Phu Thê thì Mệnh có sao gì?

Thiên Cơ ở Sửu, Mùi thì Mệnh Thái Âm; ở Dần, Thân thì Mệnh Cự Môn; ở Mão, Dậu thì Mệnh Thiên Lương. Ở sáu vị trí còn lại (Tý, Ngọ, Thìn, Tuất, Tỵ, Hợi), Mệnh vô chính diệu.

Cơ Cự ở Phu Thê có hay cãi nhau không?

Cơ Cự ở Mão, Dậu đều miếu, thường được đọc là người kia giỏi ăn nói, sắc sảo. Hai người giỏi lý lẽ thì dễ tranh luận, nhưng tranh luận không phải là cãi nhau. Cần học cách nghe cảm xúc chứ không chỉ nghe lập luận.

☯ Hỏi Thầy Huyền về bài này

Nội dung mang tính tham khảo và văn hoá; không phải lời khuyên để làm theo.