Sao Thiên Đồng ở cung Phu Thê thường được đọc là người bạn đời hiền, dễ chịu, biết hưởng cuộc sống, ít gây áp lực; nhiều sách coi đây là vị trí thuận cho hôn nhân, còn chỗ cần giữ là cả hai dễ né chuyện khó. Nhưng Thiên Đồng hãm ở tới sáu cung, nên "phúc tinh ở cung vợ chồng" không phải lúc nào cũng nhẹ nhàng như tên gọi. Bài này tính đủ 12 vị trí bằng code an sao của trang, rồi đi qua Tứ Hóa, sát tinh, đào hoa và đại hạn.
Bài Sao Thiên Đồng thủ Mệnh có một mục ngắn về chuyện này; ở đây ta đọc đủ tam phương tứ chính của Phu Thê.
Thiên Đồng ở Phu Thê nói gì về người bạn đời
Thiên Đồng hành Thủy, hóa khí là Phúc, chủ về sự ôn hòa, an nhàn, hóa giải. Ở Phu Thê, sách mô tả người phối ngẫu:
- Dễ sống cùng. Ít đòi hỏi, ít kiểm soát, biết làm không khí trong nhà nhẹ đi.
- Coi trọng cảm xúc và sự thoải mái. Một bữa cơm vui quan trọng hơn kế hoạch dài hạn.
- Ngại va chạm. Chuyện khó hay được hoãn lại, và hoãn lâu thì dồn.
Quy luật cấu trúc: Thiên Đồng ở Phu Thê thì Thái Dương luôn ở Mệnh, Thiên Cơ luôn ở Phúc Đức. Một người Mệnh Thái Dương, sống hướng ra ngoài, đi cùng một bạn đời lo cho sự êm ấm bên trong. Tam phương của Phu Thê không bao giờ có sao họ Tử Phủ hay Sát Phá Tham.
Bảng 12 vị trí: độ sáng, đồng cung, xung chiếu, tam hợp và Mệnh
Bảng sinh bằng code an sao của trang lập lá số Tử Vi, đối chiếu với hàm lập lá số trên 57.600 lá số thử, không lệch. Ngoặc đơn là độ sáng theo bảng trang dùng (xem Miếu vượng đắc hãm); dấu * là ô có nguồn ghi khác.
| Phu Thê tại | Thiên Đồng | Đồng cung | Xung chiếu: Quan Lộc | Tam hợp: Thiên Di · Phúc Đức | Mệnh |
|---|---|---|---|---|---|
| Tý | Miếu | Thái Âm (miếu) | Ngọ: trống | Thân: trống · Thìn: Thiên Cơ (miếu*), Thiên Lương (miếu) | Dần: Thái Dương, Cự Môn (miếu) |
| Sửu | Hãm | Cự Môn (hãm) | Mùi: trống | Dậu: trống · Tỵ: Thiên Cơ (miếu) | Mão: Thái Dương, Thiên Lương (miếu) |
| Dần | Miếu | Thiên Lương (miếu) | Thân: trống | Tuất: Thái Âm (miếu) · Ngọ: Thiên Cơ (đắc*) | Thìn: Thái Dương (miếu) |
| Mão | Đắc | không có | Dậu: Thái Âm (miếu) | Hợi: Cự Môn (đắc) · Mùi: Thiên Cơ (miếu*) | Tỵ: Thái Dương (miếu) |
| Thìn | Hãm | không có | Tuất: Cự Môn (hãm) | Tý: Thiên Lương (miếu) · Thân: Thiên Cơ, Thái Âm (miếu) | Ngọ: Thái Dương (miếu) |
| Tỵ | Đắc | không có | Hợi: Thiên Lương (hãm) | Sửu: trống · Dậu: Thiên Cơ, Cự Môn (miếu) | Mùi: Thái Dương, Thái Âm (đắc) |
| Ngọ | Hãm | Thái Âm (hãm) | Tý: trống | Dần: trống · Tuất: Thiên Cơ (miếu*), Thiên Lương (miếu) | Thân: Thái Dương (hãm), Cự Môn (đắc) |
| Mùi | Hãm | Cự Môn (hãm) | Sửu: trống | Mão: trống · Hợi: Thiên Cơ (hãm) | Dậu: Thái Dương, Thiên Lương (hãm) |
| Thân | Miếu | Thiên Lương (miếu) | Dần: trống | Thìn: Thái Âm (hãm) · Tý: Thiên Cơ (đắc*) | Tuất: Thái Dương (hãm) |
| Dậu | Hãm | không có | Mão: Thái Âm (hãm) | Tỵ: Cự Môn (hãm) · Sửu: Thiên Cơ (đắc*) | Hợi: Thái Dương (hãm) |
| Tuất | Hãm | không có | Thìn: Cự Môn (hãm) | Ngọ: Thiên Lương (miếu) · Dần: Thiên Cơ, Thái Âm (hãm) | Tý: Thái Dương (hãm) |
| Hợi | Đắc | không có | Tỵ: Thiên Lương (hãm) | Mùi: trống · Mão: Thiên Cơ, Cự Môn (miếu) | Sửu: Thái Dương, Thái Âm (đắc) |
Các dấu * thuộc Thiên Cơ ở Phúc Đức, ô nguồn Việt và Trung Hoa chấm khác nhau. Đọc bảng sẽ thấy:
- Thiên Đồng hãm ở sáu cung: Sửu, Mùi, Thìn, Tuất, Ngọ, Dậu. Chỉ miếu ở Tý, Dần, Thân và đắc ở Mão, Tỵ, Hợi.
- Mệnh Thái Dương sáng khi Phu Thê ở Tý đến Tỵ, tối khi Phu Thê ở Ngọ đến Tuất (Hợi cho Mệnh Nhật Nguyệt ở Sửu, mức đắc). Nửa trên địa bàn, cả hai người đều "sáng" hơn nửa dưới.
- Quan Lộc trống ở sáu vị trí (Tý, Ngọ, Sửu, Mùi, Dần, Thân), tức mọi thế Thiên Đồng có sao đồng cung.
Với lá số mọi ngày 1950–2009, Hợi chiếm khoảng 11% số người có Thiên Đồng ở Phu Thê, Mùi chừng 5%.
Sáu thế Thiên Đồng ở Phu Thê
Đồng Âm ở Tý, Ngọ: hai sao mềm cùng một cung
Thiên Đồng và Thái Âm, Quan Lộc và Thiên Di trống, Phúc Đức có Cơ Lương miếu, Mệnh là Cự Nhật. Ở Tý cả hai miếu: người kia dịu dàng, tinh tế, giàu cảm xúc, còn mình (Cự Nhật ở Dần, đều miếu) sáng sủa, nói nhiều. Ở Ngọ cả hai hãm và Thái Dương ở Mệnh cũng hãm: nhiều cảm xúc không gọi được tên, cần học cách nói ra.
Đồng Cự ở Sửu, Mùi: phúc tinh gặp ám tinh
Cả hai hãm ở cả hai cung, Quan Lộc và Thiên Di trống, Mệnh là Nhật Lương (miếu ở Mão, hãm ở Dậu). Sách đọc Đồng Cự ở Phu Thê là nhiều hiểu lầm vì lời nói: người kia muốn yên mà hay nói điều làm mình phật lòng, hoặc ngược lại. Đây là thế cần kỹ năng giao tiếp nhất trong sáu thế. Tuổi Đinh, Tân, Quý có hóa vào Cự Môn ngay tại đây.
Đồng Lương ở Dần, Thân: phúc tinh đi cùng ấm tinh
Hai sao cùng miếu, Quan Lộc trống, Thiên Di có Thái Âm (miếu ở Tuất, hãm ở Thìn), Mệnh là Thái Dương (miếu ở Thìn, hãm ở Tuất). Thiên Lương là sao che chở: người kia hiền, có trách nhiệm, hay lo cho người khác. Thế này hay được khen là thuận nhất cho chuyện vợ chồng; mặt cần giữ là một người dễ thành "người chăm" còn người kia thành "người được chăm".
Thiên Đồng đơn thủ ở Mão, Dậu: đối Thái Âm
Ở Mão Thiên Đồng đắc, đối Thái Âm miếu ở Dậu; ở Dậu Thiên Đồng hãm, đối Thái Âm hãm ở Mão. Thiên Di có Cự Môn, Phúc Đức có Thiên Cơ, Mệnh là Thái Dương đơn thủ. Mão là bức tranh êm; Dậu thì trục Phu Thê – Quan Lộc đều tối, cần chủ động hơn.
Thiên Đồng đơn thủ ở Thìn, Tuất: hãm ở cả hai
Đối diện Cự Môn hãm, Thiên Di có Thiên Lương miếu, Phúc Đức có Cơ Âm, Mệnh là Thái Dương (miếu ở Ngọ, hãm ở Tý). Phúc tinh hãm ở Thiên La, Địa Võng: sự êm ấm là thứ phải xây, không có sẵn.
Thiên Đồng đơn thủ ở Tỵ, Hợi: Mệnh có cả Nhật lẫn Nguyệt
Thiên Đồng đắc, đối Thiên Lương hãm, Thiên Di trống, Phúc Đức có Cơ Cự miếu. Mệnh luôn là Nhật Nguyệt đồng cung (Mùi hoặc Sửu, đều đắc). Người Mệnh Nhật Nguyệt có hai mặt cương nhu; bạn đời Thiên Đồng là chỗ để mình được "nghỉ".
Thiên Đồng ở Phu Thê gặp Tứ Hóa, Lộc Tồn, sát tinh, Đào Hồng
Tứ Hóa theo can năm sinh
Theo Tứ Hóa các can trang dùng, Thiên Đồng hóa Lộc (Bính), Quyền (Đinh), Kỵ (Canh). Ô Canh có tranh cãi: có bảng cho Thiên Đồng hóa Khoa, Thái Âm hóa Kỵ.
| Can năm | Luôn có (cả 12 vị trí) | Thêm tùy thế |
|---|---|---|
| Bính | Thiên Đồng hóa Lộc tại Phu Thê; Thiên Cơ hóa Quyền ở Phúc Đức | |
| Đinh | Thiên Đồng hóa Quyền tại Phu Thê; Thiên Cơ hóa Khoa ở Phúc Đức | Thái Âm hóa Lộc nếu Đồng Âm; Cự Môn hóa Kỵ nếu Đồng Cự |
| Canh | Thiên Đồng hóa Kỵ tại Phu Thê; Thái Dương hóa Lộc ở Mệnh | Thái Âm hóa Khoa nếu Đồng Âm |
| Giáp | Thái Dương hóa Kỵ ở Mệnh | |
| Ất | Thiên Cơ hóa Lộc ở Phúc Đức | Thái Âm hóa Kỵ nếu Đồng Âm |
| Mậu | Thiên Cơ hóa Kỵ ở Phúc Đức | Thái Âm hóa Quyền nếu Đồng Âm |
| Tân | Thái Dương hóa Quyền ở Mệnh | Cự Môn hóa Lộc nếu Đồng Cự |
| Kỷ, Nhâm | Thiên Lương hóa Khoa (Kỷ) hoặc Lộc (Nhâm) nếu Đồng Lương | |
| Quý | Cự Môn hóa Quyền nếu Đồng Cự; Thái Âm hóa Khoa nếu Đồng Âm |
("Nếu" ở cột cuối nghĩa là sao ấy đồng cung với Thiên Đồng tại Phu Thê.) Tuổi Bính được coi là thuận nhất: Lộc ở Phu Thê, Quyền chiếu từ Phúc Đức. Tuổi Canh có Kỵ của phúc tinh: muốn yên mà không thấy đủ, dễ hờn, ngại nói nên việc dồn lại; đồng thời Lộc ở Mệnh cho thấy mình được nhiều ở chỗ khác. Xem Hóa Kỵ ở cung Phu Thê.
Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La
An theo can năm (xem Lộc Tồn là gì, Kình Dương, Đà La). Các tổ hợp tính được:
- Tuổi Bính, Thiên Đồng ở Tỵ: Lộc Tồn và Thiên Đồng hóa Lộc cùng cung (song Lộc).
- Tuổi Canh, Đồng Lương ở Thân: Lộc Tồn đi cùng Hóa Kỵ. Tuổi Canh, Thiên Đồng ở Dậu: Kình Dương đi cùng Hóa Kỵ. Tuổi Canh, Đồng Cự ở Mùi: Đà La đi cùng Hóa Kỵ.
- Tuổi Đinh, Đồng Cự ở Mùi: Thiên Đồng hóa Quyền, Cự Môn hóa Kỵ và Kình Dương cùng một cung.
- Tuổi Đinh, Đồng Âm ở Ngọ: Thái Âm hóa Lộc, Thiên Đồng hóa Quyền và Lộc Tồn cùng cung, dù cả hai sao đều hãm.
Hỏa, Linh, Không, Kiếp an theo giờ sinh; xem Lục cát lục sát Tử Vi.
Đào Hoa, Hồng Loan
Đào Hoa chỉ đóng ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu, tức chỉ đi được với Đồng Âm hoặc Thiên Đồng đơn thủ ở Mão, Dậu. Hồng Loan đóng được mọi cung; khi nó ở Phu Thê thì Thiên Hỷ luôn ở Quan Lộc đối diện. Bảng tra ở Thiên Mã, Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ.
Đại hạn đi qua Phu Thê và lúc Thiên Đồng tự hóa
Tính từ code của trang:
| Chiều đại hạn | Đại hạn ở Phu Thê | Đại hạn ở Quan Lộc | Đại hạn thứ ba rơi vào |
|---|---|---|---|
| Nghịch (Âm Nam, Dương Nữ) | Thứ ba, từ khoảng 22–26 tuổi | Thứ chín | Chính cung Phu Thê |
| Thuận (Dương Nam, Âm Nữ) | Thứ mười một, ngoài 100 tuổi | Thứ năm, khoảng 42–46 tuổi | Phúc Đức, nơi luôn có Thiên Cơ |
Xem cách tính ở Đại hạn, tiểu hạn, lưu niên trong Tử Vi. Khi đại hạn vào Phu Thê, can cung Phu Thê làm ra Tứ Hóa đại hạn; nếu can ấy làm chính Thiên Đồng hóa, phái Phi Tinh gọi là tự hóa. Quy luật: Thiên Đồng ở cung âm chỉ có thể tự hóa Quyền; ở cung dương tự hóa Lộc hoặc Kỵ.
| Thiên Đồng ở Phu Thê tại | Tự hóa Lộc khi sinh năm | Tự hóa Kỵ khi sinh năm |
|---|---|---|
| Tý, Dần | Giáp, Kỷ | Bính, Tân |
| Thìn | Mậu, Quý | Ất, Canh |
| Ngọ | Đinh, Nhâm | Giáp, Kỷ |
| Thân | Bính, Tân | Mậu, Quý |
| Tuất | Ất, Canh | Đinh, Nhâm |
Ở cung âm, Thiên Đồng tự hóa Quyền khi: Sửu, Mão (năm Giáp, Kỷ), Tỵ (Mậu, Quý), Mùi (Đinh, Nhâm), Dậu (Bính, Tân), Hợi (Ất, Canh). Chỉ người đi nghịch mới gặp đại hạn Phu Thê, nên trong mỗi cặp năm, năm âm ứng với nam, năm dương ứng với nữ.
Hai trường hợp đáng nói, đều với nữ tuổi Canh (Dương Nữ, đi nghịch, có Thiên Đồng hóa Kỵ gốc): Thiên Đồng ở Thìn thì đại hạn Phu Thê lại cho Thiên Đồng hóa Kỵ, thành song Kỵ; Thiên Đồng ở Tuất thì đại hạn cho hóa Lộc, Lộc chồng lên Kỵ, thường được đọc là cái vướng có dịp được bù. Cả hai đều là mười năm chuyện vợ chồng được đặt lên bàn, không phải lời báo trước điều gì.
So hai lá số: Phu Thê Thiên Đồng "soi" ai
Trang so hai lá số chấm mục "Phu Thê soi Mệnh": chính tinh ở Phu Thê người này trùng chính tinh ở Mệnh người kia. Gặp người Thiên Đồng thủ Mệnh là khớp một chiều; khớp hai chiều chỉ có ở ba thế:
| Thiên Đồng ở Phu Thê mình tại | Mệnh mình | Người kia Thiên Đồng thủ Mệnh tại |
|---|---|---|
| Tý / Ngọ | Thái Dương, Cự Môn | Dần hoặc Thân |
| Sửu / Mùi | Thái Dương, Thiên Lương | Mão hoặc Dậu |
| Tỵ / Hợi | Thái Dương, Thái Âm | Sửu hoặc Mùi |
| Dần, Thân, Mão, Dậu, Thìn, Tuất | Thái Dương | không có |
Thang điểm là thiết kế của trang, không có trong cổ thư. Câu hỏi thực tế hơn là hai người có dám nói chuyện khó không; lá số không thay được cuộc nói chuyện ấy.
Câu hỏi thường gặp
Sao Thiên Đồng ở cung Phu Thê có tốt không?
Thiên Đồng là phúc tinh, nên nhiều sách coi đây là vị trí thuận: người bạn đời hiền, dễ sống cùng. Nhưng Thiên Đồng hãm ở sáu cung, và khi hãm hoặc hóa Kỵ thì sự êm ấm cần được vun đắp chứ không có sẵn.
Thiên Đồng ở Phu Thê có phải lấy muộn?
Một số sách nói "lấy muộn thì tốt" hoặc "chênh tuổi thì hợp". Đó là kinh nghiệm diễn giải, không phải luật. Thời điểm kết hôn nên tùy hai người đã sẵn sàng đến đâu.
Thiên Đồng hóa Kỵ ở Phu Thê nghĩa là gì?
Theo bảng trang dùng, người sinh năm Canh có Thiên Đồng hóa Kỵ. Ở Phu Thê thường đọc là muốn yên ấm mà không thấy đủ, dễ hờn, ngại nói thẳng. Lời khuyên là gọi tên điều làm mình yên. Ô Canh có bảng khác cho Thái Âm hóa Kỵ.
Thiên Đồng ở Phu Thê thì Mệnh có sao gì?
Mệnh luôn có Thái Dương. Thiên Đồng ở Tý, Ngọ thì Mệnh Cự Nhật; Sửu, Mùi thì Nhật Lương; Tỵ, Hợi thì Nhật Nguyệt; sáu vị trí còn lại thì Thái Dương đứng một mình ở Mệnh.
Đồng Cự ở Phu Thê có hay cãi nhau không?
Sách đọc Đồng Cự ở Phu Thê là dễ hiểu lầm vì lời nói, cả hai sao đều hãm ở Sửu, Mùi. Đó là xu hướng cần luyện cách nói, không phải lời phán. Nói chậm và hỏi lại trước khi kết luận là đủ thay đổi nhiều.