Thất Sát trong Bát Tự là thần khắc nhật chủ (can ngày sinh) và cùng âm dương với nhật chủ; Chính Quan cũng khắc nhật chủ nhưng khác âm dương. Ví dụ nhật chủ Mậu Thổ (dương): Giáp Mộc (dương) là Thất Sát, Ất Mộc (âm) là Chính Quan. Cả hai cùng là "cái ràng buộc ta", nhưng Chính Quan ràng buộc ôn hòa và chính danh, còn Thất Sát là áp lực gắt, cần được chế hoặc hóa mới thành dụng.
Tử Bình Chân Thuyên có một nhận xét đáng nhớ về Thất Sát: Sát đánh vào thân, nghe như không phải vật tốt, vậy mà các cách đại quý lại phần nhiều có Thất Sát, vì khống chế được thì Sát làm việc cho ta. Bài này giải thích hai thần, các tổ hợp kinh điển, Thất Sát cách và Chính Quan cách, rồi chạy hai lá số thật và đếm tỷ lệ trên hơn 260 nghìn lá số.
Thất Sát và Chính Quan là gì: tra từ nhật chủ
Trong thập thần, nhóm "khắc nhật chủ" gọi chung là Quan Sát. Thất Sát còn gọi là Thiên Quan (quan lệch). Chữ "thất" (bảy) đến từ chỗ đếm từ nhật chủ, can thứ bảy là can cùng dấu khắc mình: Giáp đếm đến Canh, Ất đếm đến Tân.
Bảng sau sinh từ hàm tính thập thần của trang lá số Bát Tự. Cột cuối là Thực Thần, thần chế Thất Sát:
| Nhật chủ | Thất Sát | Chi bản khí Sát | Chính Quan | Chi bản khí Quan | Thực Thần |
|---|---|---|---|---|---|
| Giáp | Canh | Thân | Tân | Dậu | Bính |
| Ất | Tân | Dậu | Canh | Thân | Đinh |
| Bính | Nhâm | Hợi | Quý | Tý | Mậu |
| Đinh | Quý | Tý | Nhâm | Hợi | Kỷ |
| Mậu | Giáp | Dần | Ất | Mão | Canh |
| Kỷ | Ất | Mão | Giáp | Dần | Tân |
| Canh | Bính | Tỵ | Đinh | Ngọ | Nhâm |
| Tân | Đinh | Ngọ | Bính | Tỵ | Quý |
| Nhâm | Mậu | Thìn, Tuất | Kỷ | Sửu, Mùi | Giáp |
| Quý | Kỷ | Sửu, Mùi | Mậu | Thìn, Tuất | Ất |
Nếu chưa biết cách lập tứ trụ và tìm nhật chủ của mình, xem bài Bát Tự Tứ Trụ là gì; trên trang lá số Bát Tự, thập thần của mọi can và tàng can đã được ghi sẵn.
Để ý cột Thất Sát và cột Thực Thần: Thực Thần luôn cùng dấu với Thất Sát và khắc nó (Bính khắc Canh, Canh khắc Giáp). Khắc cùng dấu là khắc gắt nhất, nên Thực Thần là "thuốc" chuẩn của Thất Sát, cũng như Thương Quan là khắc tinh của Chính Quan. Xem thêm ở bài Thực Thần trong Bát Tự và Thương Quan trong Bát Tự.
Chính Quan và Thất Sát thường được đọc thế nào
| Chính Quan | Thất Sát | |
|---|---|---|
| Hình ảnh | Luật lệ, chức vị, danh dự | Áp lực, cạnh tranh, quyền uy |
| Nét hay được gán | Nề nếp, trách nhiệm, giữ chữ tín, cẩn trọng | Quyết đoán, dám chịu rủi ro, chịu được sức ép, nóng |
| Môi trường hợp | Tổ chức có thứ bậc, hành chính, quản lý | Nơi cần xử lý khủng hoảng, cạnh tranh, kỹ thuật, quân sự, y khoa |
| Khi quá nặng | Gò bó, sợ sai, bị trách nhiệm đè | Áp lực đè thân, bất an, va chạm |
| Lục thân (sách cũ) | Với nữ là chồng; với nam là con cái | Với nữ cũng chỉ chồng (có sách tách Quan là chồng, Sát là người tình); với nam là con cái |
Những mô tả trên là cách đọc truyền thống, chưa có nghiên cứu nào chứng minh chúng ứng với tính cách thật. Lục thân theo giới tính phản ánh quan niệm gia đình xưa, nên đọc như biểu tượng.
Khi Quan Sát vượng và khi nhược
Quan Sát khắc nhật chủ, nên câu hỏi đầu tiên luôn là nhật chủ có chịu nổi không (xem bài thân vượng thân nhược và dụng thần):
- Thân vượng, Quan Sát vừa: áp lực vừa đủ để thành kỷ luật, thành chức phận. Đây là thế "thân Sát lưỡng đình" (thân và Sát ngang nhau) mà sách hay khen.
- Thân nhược, Quan Sát nặng: nhật chủ bị đè. Cần Ấn hóa Sát sinh thân, hoặc Thực Thần chế Sát.
- Quan Sát quá yếu với thân quá mạnh: thiếu khuôn khổ, khó gò mình vào tổ chức.
Mô hình chấm điểm của trang cho thấy rõ thế bất lợi của người sinh vào tháng Quan Sát: trong Thất Sát cách, 64% lá số rơi vào vùng thân nhược (dưới 44%), điểm phù trợ trung bình 39,0%. Chính Quan cách gần như y hệt: 64% thân nhược, trung bình 39,4%.
Các tổ hợp kinh điển của Thất Sát và Chính Quan
Sát Ấn tương sinh
Thất Sát sinh Ấn, Ấn sinh nhật chủ. Áp lực không đánh thẳng vào thân mà đi vòng qua Ấn rồi thành sức. Chân Thuyên gọi là "Sát Ấn hữu tình", thành cách quý. Ý đời thường: sức ép biến thành học vấn, chuyên môn, uy tín.
Trong dữ liệu, Thất Sát cách có Ấn lộ thì điểm phù trợ trung bình lên 44,3%, tỷ lệ thân nhược giảm từ 76% (không Ấn) xuống 48%. Với Chính Quan cách, có Ấn lộ thì trung bình 44,9%, gọi là Quan Ấn tương sinh.
Thực Thần chế Sát
Thực Thần khắc thẳng Thất Sát. Chân Thuyên đánh giá cao nhất thế "Sát vượng, Thực mạnh mà thân khỏe". Hình ảnh hay dùng: tài năng, sự khéo léo khuất phục được áp lực. Nhưng chế phải vừa. Nhiều sách bàn chuyện chế Sát thái quá: Thực Thương quá nhiều đến mức Sát bị diệt hẳn thì lá số mất cái khung, cũng thành bệnh.
Lưu ý mô hình phù ức của trang chỉ cộng điểm: Thực Thần thuộc phe tiết, nên thêm Thực Thần lại làm điểm phù trợ giảm (Sát cách có Thực lộ trung bình 34,5%). Cái lợi "chế Sát" là quan hệ khắc giữa hai chữ, mô hình đếm điểm không thấy được.
Quan Sát hỗn tạp
Chính Quan và Thất Sát cùng lộ. Hai luồng áp lực khác tính chất chồng lên một nhật chủ, hay được đọc thành công việc nhiều hướng, trách nhiệm chồng chéo, với nữ là chuyện tình cảm rối. Chân Thuyên chỉ cách gỡ: hoặc bỏ Quan, hoặc bỏ Sát (khứ Quan lưu Sát, khứ Sát lưu Quan), lấy được thanh thì quý. Bỏ bằng cách khắc (Thương Quan khắc Quan, Thực Thần khắc Sát) hoặc hợp (ví dụ một can khác hợp mất Sát).
Tài sinh Quan, Tài sinh Sát
Tài sinh Quan Sát. Với Chính Quan, Tài là trợ thủ: "Tài Quan song mỹ", tiền và vị trí đỡ nhau. Với Thất Sát, Tài lại tiếp sức cho áp lực (sách gọi là Tài tư Sát, Tài nuôi Sát). Thân nhược mà Tài nuôi Sát là thế nặng nề.
Thương Quan kiến Quan
Thương Quan khắc Chính Quan, là kỵ thần chính của Quan cách. Chân Thuyên nói Quan gặp Thương thì phải bội Ấn để hộ Quan. Chi tiết ở bài Thương Quan trong Bát Tự.
Thất Sát cách và Chính Quan cách theo Tử Bình Chân Thuyên
Cách cục theo Chân Thuyên lấy từ nguyệt lệnh: bản khí của chi tháng, hoặc can tàng trong chi tháng mà lộ lên thiên can. Chính Quan thuộc bốn thần "thiện" (Tài, Quan, Ấn, Thực), dùng thuận: nuôi, giữ, che chắn. Thất Sát thuộc bốn thần "bất thiện" (Sát, Thương, Kiếp, Nhận), dùng nghịch: chế hoặc hóa. Chữ "dụng thần" ở đây là thần của nguyệt lệnh, khác với nghĩa phổ biến hiện nay; xem bài dụng thần không phải thần may mắn.
| Chính Quan cách | Thất Sát cách | |
|---|---|---|
| Cách dùng | Thuận dụng: Tài sinh, Ấn hộ | Nghịch dụng: Thực chế, Ấn hóa |
| Thành cách | Tài và Ấn cùng lộ mà không cản nhau; đơn dụng Tài (Tài sinh Quan); đơn dụng Ấn | Sát dùng Thực chế; Sát dùng Ấn (Sát Ấn hữu tình); vài lối dùng Tài có điều kiện |
| Kỵ | Thương Quan khắc, hình xung phá hại, Sát lẫn vào | Sát không chế không hóa, Tài nuôi Sát khi thân yếu, chế quá mức |
| Gặp lẫn Quan Sát | Lấy cho thanh mới quý | Bỏ Quan hoặc bỏ Sát, lấy thanh thì quý |
Trang này chưa tự xác định cách cục. Trên lá số bạn thấy thập thần của can tháng và tàng can chi tháng, đủ để tự áp quy tắc trên.
Ví dụ chạy thật trên hai lá số
Thất Sát cách: một ngày, năm giờ sinh
Lá số giả định, chạy bằng hàm lapBatTu của trang: nam sinh ngày 13/2/1988. Ngày này âm lịch còn là 26 tháng Chạp năm Đinh Mão, nhưng đã qua Lập Xuân nên trụ năm là Mậu Thìn (xem vì sao ở bài sinh gần Tết tuổi nào). Ba trụ đầu: Mậu Thìn, Giáp Dần, Mậu Tuất. Nhật chủ Mậu Thổ, tháng Dần bản khí Giáp lộ ngay can tháng: Thất Sát cách. Dần còn tàng Bính (Thiên Ấn), Tuất tàng Đinh (Chính Ấn).
| Giờ sinh | Trụ giờ | Can giờ | Cục diện | Tỷ lệ phù trợ |
|---|---|---|---|---|
| 0h | Nhâm Tý | Thiên Tài | Tài sinh Sát | 46%, trung hòa |
| 4h | Giáp Dần | Thất Sát | Sát trùng điệp | 48%, trung hòa |
| 6h | Ất Mão | Chính Quan | Quan Sát hỗn tạp | 46%, trung hòa |
| 10h | Đinh Tỵ | Chính Ấn | Sát Ấn tương sinh | 62% (61,6%), hơi vượng |
| 16h | Canh Thân | Thực Thần | Thực Thần chế Sát | 46%, trung hòa |
Giờ 10h là bản mẫu "Sát Ấn tương sinh": Giáp Mộc sinh Đinh Hỏa, Đinh Hỏa sinh Mậu Thổ, Tỵ còn tàng Bính, Mậu làm gốc. Giờ 16h là "Thực Thần chế Sát": Canh khắc Giáp, nhưng Thân cũng xung Dần, tức chi tháng bị lay, một biến số mô hình không tính. Giờ 6h là hỗn tạp: Giáp và Ất cùng đè lên Mậu.
Ở giờ 10h, vì điểm vượt 52%, trang gợi ý dụng thần Kim, Thủy, Mộc và kỵ Thổ, Hỏa, tức coi chữ Ấn là kỵ. Theo cách cục, Ấn lại chính là chữ làm thành cách. Đây là chỗ hai nghĩa "dụng thần" vênh nhau.
Chính Quan cách thân nhược
Nam sinh ngày 8/8/1988: Mậu Thìn, Canh Thân, Ất Mùi. Nhật chủ Ất Mộc, tháng Thân bản khí Canh lộ can tháng: Chính Quan cách. Can năm Mậu là Chính Tài sinh Quan, đúng thế Tài Quan. Ất còn hợp với Canh (nhật chủ hợp Quan), một quan hệ mà nhiều người luận sẽ bàn thêm.
Ở đây cả 12 giờ sinh đều cho thân nhược, từ 22% đến 33%: Kim của tháng Thân quá nặng so với một cây Ất mùa thu. Vài giờ đáng chú ý:
| Giờ sinh | Trụ giờ | Can giờ | Cục diện | Tỷ lệ phù trợ |
|---|---|---|---|---|
| 0h | Bính Tý | Thương Quan | Thương Quan kiến Quan | 28% |
| 10h | Tân Tỵ | Thất Sát | Quan Sát hỗn tạp | 22% |
| 12h | Nhâm Ngọ | Chính Ấn | Quan Ấn tương sinh | 31% |
| 16h | Giáp Thân | Kiếp Tài | Tỷ Kiếp giúp thân | 33% |
Giờ 10h là thế xấu nhất theo cả hai lối: Sát lẫn vào Quan, thân yếu nhất. Giờ 12h có Nhâm Thủy hóa Kim sinh Mộc, đúng lối "Quan Ấn tương sinh" mà Chân Thuyên khen, dù điểm phù trợ vẫn thấp vì mô hình chỉ cộng một can Nhâm.
Đếm bằng code: Quan Sát phổ biến đến đâu
Chúng tôi chạy hàm lập lá số cho 262.980 lá số: mỗi ngày từ 1950 đến 2009, mỗi ngày 12 giờ (một mốc mỗi canh giờ). "Lộ" là xuất hiện ở can năm, tháng hoặc giờ. "Có mặt" là lộ hoặc nằm trong tàng can.
| Chỉ số | Tỷ lệ |
|---|---|
| Thất Sát lộ | 27,1% |
| Chính Quan lộ | 27,1% |
| Thất Sát có mặt / Chính Quan có mặt | 74,2% / 73,2% |
| Quan và Sát cùng lộ (hỗn tạp trên can) | 5,4% |
| Quan và Sát cùng có mặt (tính cả tàng can) | 52,0% |
| Sát lộ cùng Ấn lộ | 10,2% |
| Sát lộ cùng Thực Thần lộ | 5,4% |
| Sát lộ, không có Ấn, Thực, Thương nào lộ | 9,1% |
| Thất Sát cách / Chính Quan cách | 10,0% / 10,0% |
Hai điều rút ra. Thứ nhất, nếu tính cả tàng can thì hơn nửa số lá số có cả Quan lẫn Sát, nên "Quan Sát hỗn tạp" chỉ nên xét với chữ lộ, có lực. Thứ hai, khoảng một phần ba số lá số có Sát lộ (9,1 trên 27,1) không có chữ nào chế hay hóa nó trên can. Những lá số này phải tìm lời giải ở tàng can, ở đại vận, hoặc ở thân đủ mạnh để tự gánh Sát.
Đọc Quan Sát cho tỉnh táo
- "Có Thất Sát là nóng tính, khắc chồng" là đọc một chữ thay cho cả lá số. Hơn một phần tư dân số có Thất Sát lộ trên can.
- Chế và hóa là quan hệ giữa các chữ. Đừng chỉ nhìn điểm vượng nhược.
- Chức vị, công việc, hôn nhân là chuyện của lựa chọn và hoàn cảnh thật. Dùng Bát Tự như một lăng kính tự hiểu mình, không như bản án.
Câu hỏi thường gặp
Thất Sát trong Bát Tự là gì?
Thất Sát là thần khắc nhật chủ và cùng âm dương với nhật chủ, ví dụ Canh với nhật chủ Giáp, Giáp với nhật chủ Mậu. Nó tượng trưng cho áp lực, cạnh tranh và quyền uy, cần được Thực Thần chế hoặc Ấn hóa mới phát huy.
Thất Sát cách là gì?
Là cách cục khi nguyệt lệnh có Thất Sát làm bản khí, hoặc can Thất Sát tàng trong chi tháng lộ lên thiên can. Theo Chân Thuyên, cách này dùng nghịch: thành nhờ Thực Thần chế Sát hoặc Sát Ấn tương sinh.
Chính Quan cách là gì?
Là cách cục khi nguyệt lệnh định ra Chính Quan. Chính Quan là thần thiện nên dùng thuận: mừng có Tài sinh và Ấn hộ, kỵ Thương Quan khắc, kỵ hình xung, kỵ Thất Sát lẫn vào.
Quan Sát hỗn tạp là gì, có giải được không?
Là khi Chính Quan và Thất Sát cùng lộ trên lá số. Sách cổ giải bằng cách "lấy thanh": có chữ khắc hoặc hợp bỏ một bên, chỉ giữ Quan hoặc giữ Sát. Nếu tính cả tàng can thì hơn nửa số lá số có cả hai, nên cần xét chữ nào thật sự có lực.
Sát Ấn tương sinh nghĩa là gì?
Là Thất Sát sinh Ấn, Ấn sinh nhật chủ, nên áp lực chuyển thành sức đỡ cho bản thân. Đây là một trong những thế được sách cổ khen nhiều nhất, hợp với lá số thân nhược Sát nặng.
Thất Sát có phải sao xấu không?
Không. Tử Bình Chân Thuyên nhận xét các cách đại quý phần nhiều có Thất Sát, miễn là được khống chế đúng. Thất Sát chỉ thành gánh nặng khi thân yếu mà Sát không bị chế, không được hóa.