Bát tự nữ lập giống hệt bát tự nam: bốn trụ năm, tháng, ngày, giờ theo tiết khí, cùng nhật chủ, cùng thập thần. Chỗ khác duy nhất về kỹ thuật là chiều đi của đại vận. Phần khác nhiều là cách đọc: sách cổ coi Quan Sát là chồng, Thực Thương là con, và có cả những "luật" như Thương Quan khắc chồng, thuần dương thì cứng số. Cách đọc hiện đại dùng chung một bộ nghĩa cho nam và nữ.
Bài này đặt hai cách đọc cạnh nhau, có số liệu tính bằng code trên hơn 350 nghìn lá số, kèm định nghĩa và tỉ lệ thật của bát tự thuần dương, thuần âm nữ.
Bát tự nữ lập có khác nam không
Không khác ở phần lập lá số. Năm đổi ở Lập Xuân, tháng đổi ở 12 tiết, ngày và giờ theo vòng can chi; tất cả không phụ thuộc giới tính (cách lập có ở bài Bát Tự Tứ Trụ là gì).
Giới tính chỉ dùng ở một chỗ: chiều đại vận.
| Năm sinh can dương (Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm) | Năm sinh can âm (Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý) | |
|---|---|---|
| Nam | Đại vận đi thuận | Đại vận đi nghịch |
| Nữ | Đại vận đi nghịch | Đại vận đi thuận |
Cùng ngày giờ sinh, nam và nữ có tứ trụ y hệt nhau nhưng chuỗi đại vận đi ngược chiều, tuổi khởi vận cũng có thể khác. Bài đại vận và lưu niên trong Bát Tự có ví dụ cụ thể.
Sách cổ đọc nữ mạng thế nào
Sách Tử Bình xây phần lục thân (cha mẹ, vợ chồng, con cái) trên thập thần, và chia theo giới:
| Thập thần | Với nam (lối cổ) | Với nữ (lối cổ) |
|---|---|---|
| Chính Quan, Thất Sát | Con cái | Chồng (Chính Quan là chồng, Thất Sát có khi là người tình hoặc chồng sau) |
| Thực Thần, Thương Quan | Ít dùng làm sao lục thân chính | Con cái |
| Chính Tài, Thiên Tài | Vợ (Chính Tài), cha (Thiên Tài) | Cha, mẹ chồng |
| Chính Ấn, Thiên Ấn | Mẹ | Mẹ |
Logic đằng sau là xã hội phụ quyền: chồng "quản" vợ nên chồng là thứ khắc nhật chủ (Quan Sát); người phụ nữ "sinh" con nên con là thứ nhật chủ sinh ra (Thực Thương). Nhiều sách thời Minh Thanh còn có những bài phú riêng về nữ mệnh chấm điểm phẩm hạnh, sự "thuận tòng" của người phụ nữ.
Nhưng ngay trong truyền thống cũng có giọng thận trọng. Trích Thiên Tủy mở chương nữ mệnh bằng câu 「論夫論子要安詳,氣靜平和婦道章」, nghĩa là luận chồng luận con phải điềm tĩnh, kỹ càng. Nhậm Thiết Tiều khi chú câu này viết rằng phu tinh (sao chồng) của nữ mệnh chính là dụng thần, con là hỷ thần, không nên chỉ chuyên lấy Quan tinh làm chồng, Thực Thương làm con. Nói cách khác, một nhà chú giải lớn đời Thanh đã phản đối lối đọc máy móc "có Quan là có chồng".
Những "luật" nữ mệnh hay gây định kiến, đo bằng số
Chúng tôi lập toàn bộ 350.640 lá số từ 1/1/1950 đến 31/12/2029, mỗi ngày đủ 12 canh giờ, rồi đếm các cấu trúc hay bị đem ra "phán" cho phụ nữ. Tứ trụ không phụ thuộc giới tính nên tỉ lệ dưới đây đúng cho cả nam lẫn nữ.
| Cấu trúc | Lời "phán" hay gặp | Tỉ lệ lá số |
|---|---|---|
| Không có Chính Quan, Thất Sát lộ ở ba can (năm, tháng, giờ) | "Không có sao chồng, muộn chồng" | 51,2% |
| Không có Quan Sát ở can lẫn bản khí bốn chi | "Hôn nhân mờ nhạt" | 21,1% |
| Không có Quan Sát ở đâu cả, kể cả tàng can phụ | 4,6% | |
| Thương Quan lộ ở can | "Thương Quan khắc chồng" | 27,1% |
| Thương Quan và Chính Quan cùng lộ | "Thương Quan kiến Quan, hôn nhân trục trặc" | 5,4% |
| Chính Quan và Thất Sát cùng lộ | "Quan Sát hỗn tạp, nhiều đời chồng" | 5,4% |
| Từ ba chữ Quan Sát trở lên ở can và bản khí | "Quan Sát nặng, đa phu" | 14,8% |
| Bát tự thuần dương | "Nữ thuần dương cứng số" | 6,25% |
Đặt cạnh nhau, các con số nói rõ vấn đề. Nếu "không có Quan lộ là muộn chồng" thì một nửa phụ nữ muộn chồng. Nếu Thương Quan lộ là khắc chồng thì cứ bốn phụ nữ có hơn một người khắc chồng. Những câu ấy nếu áp cho đàn ông (Quan Sát là con, Thương Quan "khắc con") thì chẳng ai dùng nữa. Chúng không phải quy luật, mà là một mảnh của lối đọc cũ bị tách khỏi toàn cục.
Cũng cần công bằng với sách cổ: trong sách, các câu như Thương Quan kiến Quan luôn đi kèm điều kiện (thân mạnh hay yếu, có Ấn chế không, có Tài thông quan không). Cái gây hại là lối trích một dòng rồi phán.
Bát tự thuần dương, thuần âm nữ là gì
Bát tự thuần dương là lá số có cả tám chữ đều dương; thuần âm là cả tám chữ đều âm. Can dương: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm; chi dương: Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất. Can chi âm là phần còn lại.
Có một chi tiết ít bài nhắc: trong vòng 60 hoa giáp, can và chi của một trụ luôn cùng âm dương (Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần...; không có Giáp Sửu). Vì vậy "tám chữ cùng dương" thực chất là bốn trụ cùng dương, tức bốn can đều dương.
Bốn trụ gần như độc lập về âm dương:
- Trụ năm dương khi năm sinh (tính từ Lập Xuân) có can dương, tức năm dương lịch chẵn với đa số ngày trong năm.
- Trụ tháng dương khi chi tháng là Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất, Tý (tháng theo tiết), không phụ thuộc năm.
- Trụ ngày dương cách ngày một lần.
- Trụ giờ dương khi sinh giờ Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất.
Bốn lần "một nửa" nhân nhau ra 1/16. Chạy code trên 350.640 lá số được đúng như vậy: thuần dương 6,25%, thuần âm 6,25%. Cứ 16 người thì có một người thuần dương và một người thuần âm, nam nữ như nhau. Với hàng chục triệu phụ nữ Việt Nam, đó là vài triệu người mỗi loại.
Thuần dương, thuần âm có xấu không?
Sách Tử Bình kinh điển không xếp thuần dương hay thuần âm thành một cách cục riêng. Các bài phổ thông hay viết "nữ thuần dương tính mạnh, khó lấy chồng" hoặc "nam thuần âm yếu đuối" là suy diễn từ biểu tượng âm dương cộng với khuôn mẫu giới tính, không phải từ phép luận trong Chân Thuyên hay Trích Thiên Tủy. Một hiện tượng xảy ra với 1 trên 16 người, đều cho cả hai giới, khó mà mang ý nghĩa số phận riêng cho phụ nữ.
Trong lá số, âm dương chủ yếu được dùng để phân chính và thiên của thập thần (Chính Quan hay Thất Sát, Chính Tài hay Thiên Tài) và để định chiều đại vận. Lá số thuần dương chỉ có nghĩa là các thần cùng dấu với nhật chủ sẽ là Thiên Tài, Thất Sát, Thiên Ấn, Thực Thần, Tỷ Kiên; còn mạnh yếu, thành bại thì vẫn phải xét như mọi lá số khác.
Ví dụ: một lá số nữ thuần dương, đọc hai cách
Nữ sinh 12 giờ trưa ngày 10/2/1992, lập bằng hàm lapBatTu của trang lá số Bát Tự:
| Năm | Tháng | Ngày | Giờ | |
|---|---|---|---|---|
| Can chi | Nhâm Thân | Nhâm Dần | Bính Thìn | Giáp Ngọ |
| Thập thần của can | Thất Sát | Thất Sát | Nhật chủ | Thiên Ấn |
| Tàng can | Canh, Nhâm, Mậu | Giáp, Bính, Mậu | Mậu, Ất, Quý | Đinh, Kỷ |
Bốn can đều dương: đây là bát tự thuần dương. Sinh sau Lập Xuân 1992 (4/2) nên trụ năm là Nhâm Thân; nhân tiện, Tết năm ấy cũng rơi đúng ngày 4/2. Năm Nhâm là can dương, nữ nên đại vận đi nghịch, khởi vận 2 tuổi (Tân Sửu, Canh Tý, Kỷ Hợi...).
Lối đọc "trích dòng": nữ thuần dương, hai Thất Sát lộ, tức "Sát trùng", kết luận cứng số, hôn nhân trắc trở. Lối này dừng ở việc đếm nhãn.
Lối đọc toàn cục: nhật chủ Bính sinh tháng Dần, có Giáp (Ấn) lộ ở giờ và tàng trong Dần, có gốc Bính ở Dần, Đinh ở Ngọ. Mô hình của trang chấm phù trợ 51%, gần trung hòa. Hai Nhâm Thất Sát không đánh thẳng vào Bính mà có Giáp Ấn đứng giữa: Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa. Đó là cấu trúc "Sát Ấn tương sinh", một trong những cấu trúc được sách khen, thường được diễn giải là áp lực chuyển thành học vấn, chuyên môn, vị trí. Theo lối cách cục, Dần tàng Giáp bản khí lộ ở giờ, nên nhiều người sẽ đọc là Ấn cách gặp Sát, vốn là điều kiện thành cách trong Tử Bình Chân Thuyên (xem cách cục Bát Tự).
Chuyện hôn nhân, nếu muốn đọc, người luận hiện đại sẽ xem chi ngày (nhật chi, gọi là cung phu thê, dùng chung cho cả nam lẫn nữ) và cách lá số vận hành qua đại vận, chứ không kết luận từ hai chữ Thất Sát.
Cách đọc hiện đại: một bộ nghĩa cho cả hai giới
Nhiều người luận ngày nay dùng thập thần như các vai trò trong đời sống chung cho mọi người, giữ lục thân cổ như một lớp tham khảo:
| Thập thần | Nghĩa chung, áp cho cả nam và nữ |
|---|---|
| Quan Sát | Kỷ luật, áp lực, trách nhiệm, tổ chức, vị trí xã hội; trong quan hệ là người hay khuôn khổ ràng buộc mình |
| Thực Thương | Biểu đạt, sáng tạo, tay nghề, sản phẩm mình làm ra; con cái là một nghĩa trong đó |
| Tài | Tiền bạc, nguồn lực mình quản lý, sự thực tế |
| Ấn | Học vấn, sự nâng đỡ, người che chở, bằng cấp |
| Tỷ Kiếp | Bạn bè, đồng nghiệp, anh chị em, sự tự lập và cạnh tranh |
Nghĩa chi tiết của từng thần có ở các bài Thương Quan trong Bát Tự, Thất Sát và Chính Quan, Chính Tài, Thiên Tài. Với cách đọc này, một phụ nữ Quan Sát mạnh không phải "nhiều chồng" mà có thể là người làm việc trong môi trường nhiều quy tắc, chịu nhiều trách nhiệm; một phụ nữ Thương Quan lộ không phải "khắc chồng" mà là người có chính kiến, giỏi biểu đạt.
Chúng tôi ủng hộ cách đọc này vì hai lý do: nó nhất quán (một chữ không đổi nghĩa chỉ vì giới tính), và nó không gây hại. Nó cũng không có bằng chứng khoa học hơn lối cổ; cả hai đều là cách diễn giải trong một hệ thống văn hóa.
Đọc bát tự nữ cho tỉnh táo
- Không dùng lá số để quyết định cưới hay không cưới. Hiểu nhau, giá trị sống, tài chính và sức khỏe là những thông tin thực tế hơn nhiều.
- Không nghe lời "khắc chồng, khắc con". Đó là nhãn gây tổn thương, và như bảng ở trên cho thấy, các điều kiện ấy phổ biến tới mức không thể là định mệnh.
- Không cần "giải" thuần dương, thuần âm. Không có kinh điển nào yêu cầu, và không có lý do để mua vật phẩm hay làm lễ.
- Gặp khó khăn trong hôn nhân, gia đình, nên tìm đến người tư vấn tâm lý, luật sư hoặc người thân tin cậy, không phải một lá số.
Muốn tự xem lá số, bạn có thể dùng công cụ lập lá số Bát Tự hoặc hỏi cố vấn để được giải thích từng chữ.
Câu hỏi thường gặp
Bát tự nữ xem có khác nam không?
Phần lập lá số giống hệt. Khác biệt duy nhất về kỹ thuật là chiều đại vận: nữ sinh năm can dương đi nghịch, năm can âm đi thuận, ngược với nam. Sách cổ còn đọc lục thân khác nhau theo giới, như Quan Sát là chồng với nữ nhưng là con với nam.
Bát tự thuần dương nữ là gì?
Là lá số nữ có cả bốn can và bốn chi đều dương. Vì can chi trong một trụ luôn cùng âm dương, điều này tương đương bốn can đều dương. Tính trên 350.640 lá số, tỉ lệ đúng 6,25%, tức khoảng 1 trên 16 người, nam nữ như nhau.
Bát tự thuần âm nữ có xấu không?
Không có cơ sở trong sách Tử Bình kinh điển để coi là xấu. Thuần âm gặp ở 6,25% lá số, nam nữ như nhau. Âm dương chủ yếu dùng để phân chính, thiên của thập thần và chiều đại vận, không quyết định tốt xấu.
Nữ mạng có Thương Quan là khắc chồng phải không?
Không. Khoảng 27% lá số có Thương Quan lộ ở can. Sách cổ chỉ bàn "Thương Quan kiến Quan" kèm nhiều điều kiện, còn cách đọc hiện đại coi Thương Quan là tài biểu đạt, chính kiến, sáng tạo, dùng chung cho cả nam và nữ.
Lá số nữ không có Chính Quan, Thất Sát thì sao?
Hơn một nửa lá số không có Quan Sát lộ ở can, nên đó không thể là dấu hiệu muộn chồng. Quan Sát có thể ẩn trong tàng can hoặc đến qua đại vận. Nhậm Thiết Tiều cũng viết không nên chỉ lấy Quan tinh làm chồng.
Xem hôn nhân trong bát tự nữ dựa vào đâu?
Lối cổ dựa vào Quan Sát và chi ngày. Lối hiện đại thường xem chi ngày (cung phu thê) chung cho cả hai giới, cùng cách lá số vận hành qua đại vận. Dù theo lối nào, đó cũng chỉ là tham khảo văn hóa, không thay cho hiểu biết thực tế về người kia.