Sao Thái Dương ở cung Phu Thê thường được đọc là người bạn đời cởi mở, hướng ra ngoài, thích được ghi nhận và hay gánh việc cho người khác; Thái Dương sáng thì người kia có vị trí, Thái Dương tối thì người kia vất vả hơn và quan hệ cần nỗ lực để "được thấy". Khi Thái Dương ở Phu Thê, Thiên Cơ luôn ở Mệnh, và độ sáng của Thái Dương đổi theo giờ của mặt trời trên địa bàn: sáng từ Dần đến Ngọ, tối từ Thân đến Tý. Bài này tính đủ 12 vị trí bằng code an sao của trang, rồi đi qua Tứ Hóa, sát tinh, đào hoa và đại hạn.
Bài Sao Thái Dương thủ Mệnh có mục ngắn về chuyện này; ở đây ta đọc đủ tam phương tứ chính của Phu Thê.
Thái Dương ở Phu Thê nói gì về người bạn đời
Thái Dương hành Hỏa, hóa khí là Quý, chủ về tỏa sáng và sự hào phóng. Ở Phu Thê, sách mô tả người phối ngẫu:
- Sống hướng ra ngoài. Bận việc xã hội, có bạn bè, có vai trò ở cơ quan hay cộng đồng.
- Cho nhiều. Hay lo cho người khác, đôi khi lo cho người ngoài trước người nhà.
- Cần được ghi nhận. Một lời cảm ơn đúng lúc có tác dụng hơn món quà.
Sách xưa coi Thái Dương là sao chồng với nữ (Thái Âm là sao vợ với nam), nên Thái Dương ở Phu Thê của nữ được đọc kỹ hơn. Quy ước ấy đặt ra trong xã hội cũ; ngày nay nên hiểu là cách hai người chia vai công khai và riêng tư.
Quy luật cấu trúc: Thái Dương ở Phu Thê thì Thiên Cơ luôn ở Mệnh (Thiên Cơ cách Thái Dương hai cung theo chiều thuận). Tam phương của Phu Thê chỉ có thể chứa thêm Thái Âm, Cự Môn, Thiên Lương, và rất hay trống.
Bảng 12 vị trí: sáng tối, đồng cung, xung chiếu, tam hợp và Mệnh
Bảng sinh bằng code an sao của trang lập lá số Tử Vi, đối chiếu với hàm lập lá số trên 57.600 lá số thử, không lệch. Ngoặc đơn là độ sáng theo bảng trang dùng (xem Miếu vượng đắc hãm); dấu * là ô có nguồn ghi khác.
| Phu Thê tại | Thái Dương | Đồng cung | Xung chiếu: Quan Lộc | Tam hợp: Thiên Di · Phúc Đức | Mệnh |
|---|---|---|---|---|---|
| Tý | Hãm | không có | Ngọ: Thiên Lương (miếu) | Thân: trống · Thìn: Cự Môn (hãm) | Dần: Thiên Cơ, Thái Âm (hãm) |
| Sửu | Đắc | Thái Âm (đắc) | Mùi: trống | Dậu: trống · Tỵ: Thiên Lương (hãm) | Mão: Thiên Cơ, Cự Môn (miếu) |
| Dần | Miếu | Cự Môn (miếu) | Thân: trống | Tuất: trống · Ngọ: trống | Thìn: Thiên Cơ (miếu*), Thiên Lương (miếu) |
| Mão | Miếu | Thiên Lương (miếu) | Dậu: trống | Hợi: Thái Âm (miếu) · Mùi: trống | Tỵ: Thiên Cơ (miếu) |
| Thìn | Miếu | không có | Tuất: Thái Âm (miếu) | Tý: Cự Môn (miếu) · Thân: trống | Ngọ: Thiên Cơ (đắc*) |
| Tỵ | Miếu | không có | Hợi: Cự Môn (đắc) | Sửu: Thiên Lương (đắc) · Dậu: Thái Âm (miếu) | Mùi: Thiên Cơ (miếu*) |
| Ngọ | Miếu | không có | Tý: Thiên Lương (miếu) | Dần: trống · Tuất: Cự Môn (hãm) | Thân: Thiên Cơ, Thái Âm (miếu) |
| Mùi | Đắc | Thái Âm (đắc) | Sửu: trống | Mão: trống · Hợi: Thiên Lương (hãm) | Dậu: Thiên Cơ, Cự Môn (miếu) |
| Thân | Hãm | Cự Môn (đắc) | Dần: trống | Thìn: trống · Tý: trống | Tuất: Thiên Cơ (miếu*), Thiên Lương (miếu) |
| Dậu | Hãm | Thiên Lương (hãm) | Mão: trống | Tỵ: Thái Âm (hãm) · Sửu: trống | Hợi: Thiên Cơ (hãm) |
| Tuất | Hãm | không có | Thìn: Thái Âm (hãm) | Ngọ: Cự Môn (miếu) · Dần: trống | Tý: Thiên Cơ (đắc*) |
| Hợi | Hãm | không có | Tỵ: Cự Môn (hãm) | Mùi: Thiên Lương (đắc) · Mão: Thái Âm (hãm) | Sửu: Thiên Cơ (đắc*) |
Các dấu * thuộc Thiên Cơ ở Mệnh, ô nguồn Việt và Trung Hoa chấm khác nhau. Đọc bảng sẽ thấy:
- Năm sáng, hai đắc, năm tối, theo đúng đường đi của mặt trời trong ngày.
- Tam phương rất thưa. Cự Nhật ở Dần, Thân có cả Quan Lộc, Thiên Di, Phúc Đức đều trống: Phu Thê "tự đứng".
- Thái Âm hầu như luôn ở gần: đồng cung (Sửu, Mùi), Quan Lộc (Thìn, Tuất), Thiên Di (Mão, Dậu), Phúc Đức (Tỵ, Hợi) hoặc Mệnh (Tý, Ngọ). Chỉ Cự Nhật là Thái Âm nằm ngoài cả năm cung này.
Với lá số mọi ngày 1950–2009, Sửu chiếm khoảng 11% số người có Thái Dương ở Phu Thê, Dậu chừng 5%.
Sáu thế Thái Dương ở Phu Thê
Thái Dương đơn thủ ở Tý, Ngọ: mặt trời nửa đêm và giữa trưa
Đối diện Thiên Lương miếu, Phúc Đức có Cự Môn hãm, Mệnh là Cơ Âm. Ở Ngọ Thái Dương miếu, Mệnh Cơ Âm cũng miếu: người kia rạng rỡ, mình tinh tế. Ở Tý tất cả đều hãm: người kia làm nhiều mà ít được thấy.
Nhật Nguyệt ở Sửu, Mùi: mặt trời và mặt trăng chung một cung
Hai sao cùng đắc, Quan Lộc và Thiên Di trống, Phúc Đức có Thiên Lương hãm, Mệnh là Cơ Cự miếu. Người kia có cả hai mặt hướng ngoại và nội tâm, nên khó đoán. Mình giỏi lời; nên hỏi bằng sự tò mò hơn là phán xét.
Cự Nhật ở Dần, Thân: cả tam phương trống
Ở Dần hai sao cùng miếu: sách ví mặt trời mọc xua tan bóng tối của Cự Môn. Ở Thân Thái Dương hãm: mặt trời lặn, lời nói dễ thành hiểu lầm. Mệnh luôn là Cơ Lương miếu. Tam phương trống nên Tứ Hóa và phụ tinh tại Phu Thê quyết định nhiều.
Nhật Lương ở Mão, Dậu: sáng hết hoặc tối hết
Ở Mão hai sao miếu, Thiên Di có Thái Âm miếu: người kia đáng tin, hay giúp người. Ở Dậu tất cả hãm: người kia tốt bụng nhưng mệt, gánh nhiều việc không tên. Mệnh là Thiên Cơ (miếu ở Tỵ, hãm ở Hợi).
Thái Dương đơn thủ ở Thìn, Tuất: Nhật Nguyệt đối nhau
Đối diện là Thái Âm. Nhật ở Thìn, Nguyệt ở Tuất, cả hai miếu, sách gọi là Nhật Nguyệt tịnh minh. Ngược lại, Nhật ở Tuất, Nguyệt ở Thìn, cả hai hãm, gọi là Nhật Nguyệt phản bối. Thiên Di có Cự Môn miếu, Mệnh là Thiên Cơ. Tên gọi nghe nặng, nhưng ở Phu Thê nó chỉ nói: hai người cần chủ động "bật đèn" cho nhau.
Thái Dương đơn thủ ở Tỵ, Hợi: tam phương đủ ba sao
Thế duy nhất mà Quan Lộc (Cự Môn), Thiên Di (Thiên Lương), Phúc Đức (Thái Âm) đều có sao. Ở Tỵ Thái Dương và Thái Âm cùng sáng; ở Hợi cả Thái Dương, Thái Âm, Cự Môn đều hãm. Mệnh là Thiên Cơ.
Thái Dương ở Phu Thê gặp Tứ Hóa, Lộc Tồn, sát tinh, Đào Hồng
Tứ Hóa theo can năm sinh
Theo Tứ Hóa các can trang dùng, Thái Dương hóa Lộc (Canh), Quyền (Tân), Kỵ (Giáp); có bảng cho Thái Dương hóa Khoa năm Mậu, trang dùng Hữu Bật.
| Can năm | Luôn có (cả 12 vị trí) | Thêm tùy thế |
|---|---|---|
| Giáp | Thái Dương hóa Kỵ tại Phu Thê | |
| Canh | Thái Dương hóa Lộc tại Phu Thê | Thái Âm hóa Khoa đồng cung nếu Nhật Nguyệt |
| Tân | Thái Dương hóa Quyền tại Phu Thê | Cự Môn hóa Lộc đồng cung nếu Cự Nhật |
| Ất | Thiên Cơ hóa Lộc ở Mệnh | Thái Âm hóa Kỵ đồng cung nếu Nhật Nguyệt; Thiên Lương hóa Quyền đồng cung nếu Nhật Lương |
| Bính | Thiên Cơ hóa Quyền ở Mệnh | |
| Đinh | Thiên Cơ hóa Khoa ở Mệnh | Thái Âm hóa Lộc đồng cung nếu Nhật Nguyệt; Cự Môn hóa Kỵ đồng cung nếu Cự Nhật |
| Mậu | Thiên Cơ hóa Kỵ ở Mệnh | Thái Âm hóa Quyền đồng cung nếu Nhật Nguyệt |
| Kỷ, Nhâm | Thiên Lương hóa Khoa (Kỷ) hoặc Lộc (Nhâm) đồng cung nếu Nhật Lương | |
| Quý | Cự Môn hóa Quyền nếu Cự Nhật; Thái Âm hóa Khoa nếu Nhật Nguyệt |
Tuổi Giáp có Thái Dương hóa Kỵ ngay tại Phu Thê ở mọi vị trí: người kia bận việc ngoài, gánh cho người khác. Thái Dương sáng hóa Kỵ nhẹ hơn hẳn khi tối; bài Hóa Kỵ ở cung Phu Thê có lá số mẫu. Tuổi Ất với Nhật Nguyệt: Thái Âm hóa Kỵ ở Phu Thê trong khi Thiên Cơ hóa Lộc ở Mệnh; mình được lộc, chuyện cảm xúc trong nhà là chỗ vướng.
Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La
Tuổi Giáp đáng xem kỹ nhất: Kỵ đã cố định ở Phu Thê, còn Lộc Tồn ở Dần, Kình Dương ở Mão, Đà La ở Sửu. Vậy Cự Nhật ở Dần có Lộc Tồn đi cùng Kỵ, Nhật Lương ở Mão có Kình đi cùng Kỵ, Nhật Nguyệt ở Sửu có Đà đi cùng Kỵ. Ngược lại, tuổi Canh với Cự Nhật ở Thân có Lộc Tồn và Thái Dương hóa Lộc cùng cung. Xem Kình Dương, Đà La, Lộc Tồn là gì; Hỏa, Linh, Không, Kiếp an theo giờ, xem Lục cát lục sát Tử Vi.
Đào Hoa, Hồng Loan
Đào Hoa chỉ đóng ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu: tức chỉ đi được với Thái Dương đơn thủ ở Tý, Ngọ hoặc Nhật Lương ở Mão, Dậu. Hồng Loan ở Phu Thê thì Thiên Hỷ luôn ở Quan Lộc đối diện. Bảng tra ở Thiên Mã, Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ.
Đại hạn đi qua Phu Thê và lúc Thái Dương tự hóa
Tính từ code của trang:
| Chiều đại hạn | Đại hạn ở Phu Thê | Đại hạn ở Quan Lộc | Đại hạn thứ ba rơi vào |
|---|---|---|---|
| Nghịch (Âm Nam, Dương Nữ) | Thứ ba, từ khoảng 22–26 tuổi | Thứ chín | Chính cung Phu Thê |
| Thuận (Dương Nam, Âm Nữ) | Thứ mười một, ngoài 100 tuổi | Thứ năm, khoảng 42–46 tuổi | Phúc Đức, tam hợp của Phu Thê |
Xem cách tính ở Đại hạn, tiểu hạn, lưu niên trong Tử Vi. Khi đại hạn vào Phu Thê, can cung Phu Thê làm ra Tứ Hóa đại hạn; nếu can ấy làm chính Thái Dương hóa, phái Phi Tinh gọi là tự hóa. Quy luật: Thái Dương ở cung âm chỉ tự hóa Quyền, không bao giờ tự hóa Kỵ; ở cung dương thì Lộc hoặc Kỵ.
| Thái Dương ở Phu Thê tại | Tự hóa Lộc khi sinh năm | Tự hóa Kỵ khi sinh năm |
|---|---|---|
| Tý, Dần | Bính, Tân | Mậu, Quý |
| Thìn | Ất, Canh | Đinh, Nhâm |
| Ngọ | Giáp, Kỷ | Bính, Tân |
| Thân | Mậu, Quý | Ất, Canh |
| Tuất | Đinh, Nhâm | Giáp, Kỷ |
Ở cung âm, Thái Dương tự hóa Quyền khi: Sửu, Mão (sinh năm Bính, Tân), Tỵ (Ất, Canh), Mùi (Giáp, Kỷ), Dậu (Mậu, Quý), Hợi (Đinh, Nhâm). Trong mỗi cặp năm, năm âm ứng với nam, năm dương ứng với nữ, vì chỉ người đi nghịch mới gặp đại hạn Phu Thê.
Riêng người sinh năm Giáp, Kỷ có Thái Dương ở Tuất (hãm): can cung Phu Thê là Giáp, nên đại hạn Phu Thê lại cho Thái Dương hóa Kỵ. Với nữ tuổi Giáp (Dương Nữ, đi nghịch), Kỵ gốc cũng nằm ở đó, thành song Kỵ cùng sao, cùng cung, đúng quãng tuổi lập gia đình. Đó là mười năm chuyện vợ chồng chiếm nhiều tâm sức, nên chủ động dành thời gian cho nhau; không phải mười năm phải tránh.
So hai lá số: Phu Thê Thái Dương "soi" ai
Trang so hai lá số chấm mục "Phu Thê soi Mệnh": chính tinh ở Phu Thê người này trùng chính tinh ở Mệnh người kia. Gặp người Thái Dương thủ Mệnh là khớp một chiều; khớp hai chiều chỉ có ở ba thế:
| Thái Dương ở Phu Thê mình tại | Mệnh mình | Người kia Thái Dương thủ Mệnh tại |
|---|---|---|
| Tý / Ngọ | Thiên Cơ, Thái Âm | Dần hoặc Thân |
| Sửu / Mùi | Thiên Cơ, Cự Môn | Mão hoặc Dậu |
| Dần / Thân | Thiên Cơ, Thiên Lương | Thìn hoặc Tuất |
| Mão, Dậu, Thìn, Tuất, Tỵ, Hợi | Thiên Cơ | không có |
Thang điểm là thiết kế của trang, không có trong cổ thư. Câu hỏi thực tế hơn là: người kia có được ghi nhận đủ không, mình có thấy bị lu mờ không. Lá số không trả lời thay hai người được.
Câu hỏi thường gặp
Sao Thái Dương ở cung Phu Thê có tốt không?
Thái Dương sáng (Dần đến Ngọ) thường được đọc là người bạn đời có vị trí, cởi mở, rộng rãi. Thái Dương tối (Thân đến Tý) thì người kia vất vả hơn, quan hệ cần nỗ lực để được thấy. Tốt hay không còn tùy Tứ Hóa, sát tinh và cả lá số người kia.
Nữ có Thái Dương ở Phu Thê nghĩa là gì?
Sách xưa coi Thái Dương là sao chồng với nữ, nên Thái Dương ở Phu Thê của nữ được đọc kỹ hơn: sáng thì người chồng có vị thế, tối thì người chồng vất vả. Ngày nay nên hiểu đây là quy ước truyền thống về vai trò, không phải định mệnh.
Thái Dương hóa Kỵ ở Phu Thê có phải ly hôn không?
Không. Người sinh năm Giáp có Thái Dương hóa Kỵ. Ở Phu Thê thường đọc là người kia bận việc, gánh nhiều, hoặc mình đòi hỏi được quan tâm nhiều. Lời khuyên thực tế là chia việc và chia ghi nhận cho rõ.
Thái Dương ở Phu Thê thì Mệnh có sao gì?
Mệnh luôn có Thiên Cơ. Thái Dương ở Tý, Ngọ thì Mệnh Cơ Âm; Sửu, Mùi thì Cơ Cự; Dần, Thân thì Cơ Lương; sáu vị trí còn lại thì Thiên Cơ đứng một mình ở Mệnh.
Nhật Nguyệt phản bối ở Phu Thê là gì?
Là thế Thái Dương ở Tuất, Thái Âm ở Thìn, cả hai đều hãm. Khi Phu Thê ở Tuất, hai sao đối nhau qua trục Phu Thê – Quan Lộc. Thường được đọc là quan hệ thiếu "ánh sáng tự nhiên", cần chủ động vun đắp; không phải điềm xấu.