Thư viện Polaris☯ Hỏi Thầy Huyền

Sao Tử Vi ở cung Phu Thê: 12 vị trí, Tứ Hóa và đại hạn

Sao Tử Vi ở cung Phu Thê nói gì về người bạn đời? Bảng 12 vị trí tính bằng code: độ sáng, đồng cung, xung chiếu, tam hợp, Mệnh; Tứ Hóa, sát tinh, đại hạn.

11 phút đọc

Tranh thủy mặc hai chiếc ghế gỗ đặt cạnh nhau trên thềm một cung điện cổ, phía trên là ngôi sao sáng giữa trời đêm mờ sương

Sao Tử Vi ở cung Phu Thê thường được đọc là người bạn đời có cá tính, có chính kiến, coi trọng vị trí và thể diện của mình trong nhà; quan hệ có chỗ dựa, nhưng chuyện ai quyết, ai nhường là bài học chính. Tử Vi ở Phu Thê gặp ở khoảng một phần mười hai số lá số, và ở mỗi vị trí nó kéo theo một bộ sao cố định: Mệnh, Quan Lộc, Thiên Di, Phúc Đức đều biết trước được. Bài này tính đủ 12 vị trí bằng code an sao của trang, rồi đi qua Tứ Hóa, sát tinh, đào hoa và đại hạn.

Bài Sao Tử Vi thủ Mệnh có một mục ngắn về chuyện này; ở đây ta đọc đủ tam phương tứ chính của Phu Thê.

Tử Vi ở Phu Thê nói gì về người bạn đời

Tử Vi là đế tinh, hành Thổ, chủ về ngôi vị. Ở Phu Thê, sách mô tả người phối ngẫu theo ba nét:

  • Có cái tôi rõ. Người kia muốn được tôn trọng, muốn có tiếng nói trong việc lớn của gia đình.
  • Là chỗ dựa. Tử Vi sáng thì người kia có năng lực, có vị thế, giúp được mình.
  • Cần được nể mặt. Va chạm hay đến từ cảm giác bị coi nhẹ trước người ngoài.

Sách xưa nhấn mạnh Tử Vi cần "triều đình": Tả Hữu, Khôi Việt, Xương Khúc hội về. Ở Phu Thê, cát tinh hội về thường được đọc là quan hệ có gia đình, bạn bè nâng đỡ; Tử Vi trơ trọi gặp sát tinh thì dễ thành hai cái tôi đứng riêng.

Quy luật cấu trúc: Phu Thê có Tử Vi thì Vũ Khúc luôn ở Thiên Di, Liêm Trinh luôn ở Phúc Đức, vì ba sao cách nhau đúng bốn cung. Chuyện vợ chồng vì thế luôn dính đến tiền bạc (Vũ Khúc) và nguyên tắc sống (Liêm Trinh).

Bảng 12 vị trí: độ sáng, đồng cung, xung chiếu, tam hợp và Mệnh

Phu Thê luôn cách Mệnh hai cung theo chiều nghịch. Bảng sinh bằng code an sao của trang lập lá số Tử Vi, đối chiếu với hàm lập lá số trên 57.600 lá số thử, không lệch. Ngoặc đơn là độ sáng theo bảng trang dùng (xem Miếu vượng đắc hãm); dấu * là ô có nguồn ghi khác.

Phu Thê tạiTử ViĐồng cungXung chiếu: Quan LộcTam hợp: Thiên Di · Phúc ĐứcMệnh
TýĐắckhông cóNgọ: Tham Lang (hãm)Thân: Vũ Khúc, Thiên Tướng (miếu) · Thìn: Liêm Trinh, Thiên Phủ (miếu)Dần: Phá Quân (hãm)
SửuĐắcPhá Quân (miếu)Mùi: Thiên Tướng (đắc)Dậu: Vũ Khúc (đắc), Thất Sát (hãm) · Tỵ: Liêm Trinh, Tham Lang (hãm)Mão: Thiên Phủ (bình)
DầnMiếuThiên Phủ (miếu)Thân: Thất Sát (miếu)Tuất: Vũ Khúc (miếu) · Ngọ: Liêm Trinh, Thiên Tướng (miếu)Thìn: Tham Lang (miếu)
MãoBìnhTham Lang (hãm)Dậu: trốngHợi: Vũ Khúc, Phá Quân (hãm) · Mùi: Liêm Trinh, Thất Sát (đắc)Tỵ: Thiên Tướng (đắc)
ThìnMiếu*Thiên Tướng (miếu)Tuất: Phá Quân (đắc)Tý: Vũ Khúc, Thiên Phủ (miếu) · Thân: Liêm Trinh (miếu)Ngọ: Thất Sát (miếu)
TỵMiếuThất Sát (miếu)Hợi: Thiên Phủ (đắc)Sửu: Vũ Khúc, Tham Lang (miếu) · Dậu: Liêm Trinh, Phá Quân (hãm)Mùi: vô chính diệu
NgọMiếukhông cóTý: Tham Lang (hãm)Dần: Vũ Khúc, Thiên Tướng (miếu) · Tuất: Liêm Trinh, Thiên Phủ (miếu)Thân: Phá Quân (hãm)
MùiĐắcPhá Quân (miếu)Sửu: Thiên Tướng (đắc)Mão: Vũ Khúc (đắc), Thất Sát (hãm) · Hợi: Liêm Trinh, Tham Lang (hãm)Dậu: Thiên Phủ (bình)
ThânMiếuThiên Phủ (miếu)Dần: Thất Sát (miếu)Thìn: Vũ Khúc (miếu) · Tý: Liêm Trinh, Thiên Tướng (miếu)Tuất: Tham Lang (miếu)
DậuBìnhTham Lang (hãm)Mão: trốngTỵ: Vũ Khúc, Phá Quân (hãm) · Sửu: Liêm Trinh, Thất Sát (đắc)Hợi: Thiên Tướng (đắc)
TuấtMiếu*Thiên Tướng (miếu)Thìn: Phá Quân (đắc)Ngọ: Vũ Khúc, Thiên Phủ (miếu) · Dần: Liêm Trinh (miếu)Tý: Thất Sát (miếu)
HợiĐắcThất Sát (miếu)Tỵ: Thiên Phủ (đắc*)Mùi: Vũ Khúc, Tham Lang (miếu) · Mão: Liêm Trinh, Phá Quân (hãm)Sửu: vô chính diệu

Ô Thìn, Tuất của Tử Vi có nguồn Việt ghi hãm; ô Tỵ của Thiên Phủ do trang điền vì nguồn gốc bỏ trống. Ba quy luật cứng:

  1. Mệnh luôn thuộc họ Sát Phá Tham hoặc Phủ Tướng, hoặc vô chính diệu (khi Tử Sát ở Phu Thê). Người có Tử Vi ở Phu Thê không bao giờ có Mệnh là Cơ, Nhật, Nguyệt, Đồng, Cự, Lương.
  2. Tam phương của Phu Thê không bao giờ có sáu sao kể trên. Toàn bộ là họ Tử Phủ và Sát Phá Tham.
  3. Cung dương cho tam hợp toàn sao miếu; cung âm kéo theo Liêm Tham, Vũ Phá, Vũ Sát hãm ở tam hợp, nên sách mô tả hôn nhân ở cung âm nhiều biến động hơn.

Mười hai vị trí không gặp đều nhau: với lá số mọi ngày 1950–2009, Thìn chiếm khoảng 11%, Tý chừng 5%.

Sáu thế Tử Vi ở Phu Thê, đọc kỹ từng thế

Tử Vi đơn thủ ở Tý, Ngọ: người kia độc lập, mình là Phá Quân

Đối diện Tham Lang hãm, tam hợp đủ Vũ Tướng và Liêm Phủ miếu. Mệnh luôn là Phá Quân hãm: người ưa đổi mới. Một người phá khuôn đi cùng một người giữ khuôn: bổ sung nhau, nhưng người Phá Quân dễ thấy bị kiểm soát.

Tử Phá ở Sửu, Mùi: người kia có khí phách, quan hệ có lúc làm lại

Đế tinh đi cùng sao phá cũ lập mới, đối diện Thiên Tướng, Mệnh là Thiên Phủ bình. Sách cũ hay gán thế này với hôn nhân có giai đoạn "đập đi xây lại". Đọc tỉnh táo: hai người cần cách xử lý bất đồng mà không phải lần nào cũng làm lại từ đầu.

Tử Phủ ở Dần, Thân: hai sao "tôn" cùng ở cung vợ chồng

Tử Vi và Thiên Phủ cùng miếu, đối diện Thất Sát miếu, Mệnh là Tham Lang miếu. Thế vững nhất: người kia có năng lực, biết lo. Cần giữ là hai sao đều thích làm chủ, mình lại mạnh ý, nhà dễ có hai "trung tâm"; nên phân vai rõ.

Tử Tham ở Mão, Dậu: "đào hoa phạm chủ" trong cung vợ chồng

Tham Lang hãm ngồi cùng Tử Vi bình, Quan Lộc trống, tam hợp có Vũ Phá và Liêm Sát. Ở Phu Thê, bản luận cũ hay đọc là người kia hấp dẫn, giao thiệp rộng. Đào Hoa có thể đóng ngay trong cung. Lời khuyên thực tế: thỏa thuận ranh giới từ đầu.

Tử Tướng ở Thìn, Tuất: người kia trọng nguyên tắc, mình là Thất Sát

Đế tinh với ấn tinh, đối diện Phá Quân, Mệnh là Thất Sát miếu: mình quyết liệt, người kia trọng khuôn phép. Lộc Tồn không bao giờ đóng ở Thìn, Tuất, nên thế này không có Lộc Tồn đồng cung.

Tử Sát ở Tỵ, Hợi: người kia cầm quyết, Mệnh mình trống

Tử Vi cùng Thất Sát đều miếu, đối diện Thiên Phủ. Mệnh luôn vô chính diệu (xem Mệnh vô chính diệu). Người ta hay nói "người kia nặng ký hơn mình"; cách nhìn khác là mình mềm dẻo, dễ thích nghi với một người có chính kiến.

Tử Vi ở Phu Thê gặp Tứ Hóa, Lộc Tồn, sát tinh, Đào Hồng

Tứ Hóa theo can năm sinh

Theo Tứ Hóa các can trang dùng, Tử Vi chỉ hóa Khoa (Ất) và Quyền (Nhâm). Vì Vũ, Liêm cố định trong tam phương, nhiều tuổi có hóa vào tam phương Phu Thê ở mọi vị trí:

Can nămHóa trong tam phương Phu Thê (đúng ở cả 12 vị trí)Thêm tùy thế
ẤtTử Vi hóa Khoa ngay tại Phu Thê
NhâmTử Vi hóa Quyền tại Phu Thê; Vũ Khúc hóa Kỵ ở Thiên Di
GiápLiêm Trinh hóa Lộc ở Phúc Đức; Vũ Khúc hóa Khoa ở Thiên DiPhá Quân hóa Quyền đồng cung nếu Tử Phá
BínhLiêm Trinh hóa Kỵ ở Phúc Đức
KỷVũ Khúc hóa Lộc ở Thiên DiTham Lang hóa Quyền đồng cung nếu Tử Tham
CanhVũ Khúc hóa Quyền ở Thiên Di
MậuTham Lang hóa Lộc đồng cung nếu Tử Tham
QuýPhá Quân hóa Lộc đồng cung nếu Tử Phá; Tham Lang hóa Kỵ đồng cung nếu Tử Tham

Tuổi Nhâm: Quyền ở Phu Thê, Kỵ ở Thiên Di chiếu về; người kia có tiếng nói lớn, tiền bạc chung và môi trường bên ngoài là chỗ hay vướng. Tuổi Quý với Tử Tham: Tham Lang hóa Kỵ ngay tại Phu Thê, chủ đề ranh giới nổi lên rõ (xem Hóa Kỵ ở cung Phu Thê). Tuổi Ất: Khoa, quan hệ có danh chính, dễ được người ngoài giúp hòa giải (xem Hóa Khoa là gì).

Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La

An theo can năm (xem Lộc Tồn là gì, Kình Dương, Đà La):

  • Lộc Tồn đồng cung Tử Vi ở Phu Thê được ở tám vị trí: Tý (tuổi Quý), Dần (Giáp), Mão (Ất), Tỵ (Bính, Mậu), Ngọ (Đinh, Kỷ), Thân (Canh), Dậu (Tân), Hợi (Nhâm). Không bao giờ ở Tử Phá, Tử Tướng. Tuổi Ất có Tử Tham ở Mão thì Phu Thê có cả Lộc Tồn lẫn Tử Vi hóa Khoa.
  • Kình Dương không bao giờ đóng cùng Tử Phủ, Tử Sát.
  • Đà La không bao giờ đóng cùng Tử Vi đơn thủ hay Tử Tham.

Sát tinh ở Phu Thê thường được đọc là va chạm thật hơn: Kình thẳng, Đà dây dưa. Hỏa, Linh, Không, Kiếp an theo giờ; Không Kiếp chỉ đồng cung nhau ở Tỵ, Hợi, đúng thế Tử Sát (xem Địa Không, Địa Kiếp).

Đào Hoa, Hồng Loan

Đào Hoa chỉ đóng ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu, nên chỉ đi được với Tử Vi đơn thủ hoặc Tử Tham; Tử Tham thêm Đào Hoa là chữ "đào hoa" nhân đôi. Hồng Loan đóng được mọi cung; khi nó ở Phu Thê thì Thiên Hỷ luôn ở Quan Lộc đối diện. Bảng tra theo tuổi ở Thiên Mã, Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ.

Đại hạn đi qua Phu Thê: tuổi nào, và Tử Vi tự hóa khi nào

Đại hạn đi thuận hay nghịch tùy âm dương của năm sinh và giới tính. Tính từ code của trang:

Chiều đại hạnĐại hạn ở Phu ThêĐại hạn ở Quan Lộc (xung)Đại hạn thứ ba rơi vào
Nghịch (Âm Nam, Dương Nữ)Thứ ba, bắt đầu khoảng 22–26 tuổiThứ chínChính cung Phu Thê
Thuận (Dương Nam, Âm Nữ)Thứ mười một, ngoài 100 tuổiThứ năm, khoảng 42–46 tuổiPhúc Đức, tam hợp của Phu Thê

Ở tuổi hai mươi, ba mươi, ai cũng đi qua tam phương của Phu Thê: người đi nghịch ở ngay cung ấy, người đi thuận ở Phúc Đức, nơi luôn có Liêm Trinh.

Khi đại hạn vào Phu Thê, can của cung Phu Thê cho ra Tứ Hóa đại hạn. Nếu can đó làm chính Tử Vi hóa, phái Phi Tinh gọi là tự hóa. Can cung Phu Thê tùy năm sinh; tính ra:

  • Năm Giáp, Kỷ: Tử Vi ở Thân tự hóa Quyền, ở Hợi tự hóa Khoa.
  • Năm Ất, Canh: ở Ngọ hóa Quyền, ở Dậu hóa Khoa.
  • Năm Bính, Tân: ở Thìn hóa Quyền, ở Mùi hóa Khoa.
  • Năm Đinh, Nhâm: ở Tý, Dần hóa Quyền, ở Tỵ hóa Khoa.
  • Năm Mậu, Quý: ở Tuất hóa Quyền, ở Sửu, Mão hóa Khoa.

Chỉ người đi nghịch mới gặp đại hạn Phu Thê, nên trong mỗi cặp năm, năm âm ứng với nam, năm dương ứng với nữ. Tử Vi không hóa Lộc hay Kỵ, nên không có "tự hóa Kỵ". Mười năm ấy là lúc chuyện vợ chồng được đặt lên bàn, không phải mười năm "phải cưới" hay "phải tránh".

So hai lá số: khi nào Phu Thê của mình "soi" đúng người kia

Trang so hai lá số có mục "Phu Thê soi Mệnh": chính tinh ở Phu Thê người này trùng chính tinh ở Mệnh người kia thì tính là khớp. Gặp người Tử Vi thủ Mệnh là khớp một chiều; khớp hai chiều chỉ xảy ra trong các cặp sau:

Tử Vi ở Phu Thê mình tạiMệnh mìnhNgười kia Tử Vi thủ Mệnh tại
Tý / NgọPhá QuânDần hoặc Thân
Sửu / MùiThiên PhủMão hoặc Dậu
Dần / ThânTham LangThìn hoặc Tuất
Mão / DậuThiên TướngTỵ hoặc Hợi
Thìn / TuấtThất SátTý hoặc Ngọ
Tỵ / Hợivô chính diệukhông có

Thang điểm là thiết kế của trang, không phải của cổ thư. Không khớp không có nghĩa là không hợp. Lá số không thay được việc hai người hiểu nhau; khi hôn nhân gặp khó thật, người nên hỏi là chuyên gia tư vấn gia đình.

Câu hỏi thường gặp

Sao Tử Vi ở cung Phu Thê có tốt không?

Tử Vi không có cung hãm, thường được đọc là người bạn đời có năng lực, có vị thế. Mặt cần giữ là cái tôi và chuyện phân vai. Tốt hay không còn tùy Tứ Hóa, sát tinh và lá số người kia.

Tử Vi ở Phu Thê có phải lấy chồng, lấy vợ giàu không?

Không chắc. Tử Vi chủ về vị thế, không phải tiền. Tiền bạc chung xem thêm ở Vũ Khúc, sao luôn nằm ở Thiên Di, tam hợp của Phu Thê.

Tử Tham ở Phu Thê có phải ngoại tình không?

Không. Sách gọi Tử Tham là "đào hoa phạm chủ", đọc là người kia hấp dẫn, giao thiệp rộng: xu hướng cần thỏa thuận ranh giới, không phải lời phán. Không sao đơn lẻ nào kết luận được chuyện chung thủy.

Tử Vi ở Phu Thê thì Mệnh có sao gì?

Tử Vi ở Tý, Ngọ thì Mệnh Phá Quân; Sửu, Mùi thì Thiên Phủ; Dần, Thân thì Tham Lang; Mão, Dậu thì Thiên Tướng; Thìn, Tuất thì Thất Sát; Tỵ, Hợi thì Mệnh vô chính diệu.

Làm sao biết người yêu có hợp với Tử Vi ở Phu Thê của mình?

Dùng trang so hai lá số để xem các mục Phu Thê soi Mệnh, ngũ hành cục, chi năm, Hóa Kỵ. Kết quả là gợi ý để hai người nói chuyện, không phải phán quyết.

☯ Hỏi Thầy Huyền về bài này

Nội dung mang tính tham khảo và văn hoá; không phải lời khuyên để làm theo.