Sao Tham Lang thủ Mệnh là khi chính tinh Tham Lang, sao đào hoa và ham muốn của chòm Thiên Phủ, nằm ở cung Mệnh. Sách mô tả người này giàu sức sống, giao tế rộng, đa tài, ham trải nghiệm, nhưng dễ ôm nhiều thứ mà không sâu. Tham Lang luôn nằm trong bộ Sát Phá Tham, nên đời người Tham Lang ở Mệnh thường được đọc là nhiều bước ngoặt. Độ sáng của nó đổi mạnh theo cung: ở tứ mộ thì miếu, ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Tỵ, Hợi thì nguồn Việt xếp hãm.
Bài này thuộc loạt "Chính tinh thủ Mệnh". Mọi bảng vị trí đều tính bằng code an sao của trang lập lá số Tử Vi. Tính chất chung của 14 sao xem 14 chính tinh Tử Vi, cấu trúc 12 bố cục xem 12 bố cục chính tinh Tử Vi.
Tính chất sao Tham Lang: ham muốn, giao tế, đa tài
Tham Lang hành Âm Mộc đới Thủy (Mộc mang theo Thủy), hóa khí là Đào hoa. Tên Tham Lang mượn từ ngôi sao đầu tiên của Bắc Đẩu thất tinh. Khi an sao, Tham Lang luôn cách Thiên Phủ hai cung theo chiều thuận.
Chữ "tham" dễ bị hiểu là tham lam. Cách hiểu rộng hơn: Tham Lang là sức muốn, cái động lực khiến người ta đi tìm, đi thử, đi gặp. Ba chữ cho nó là muốn, giao, học:
- Muốn: ham sống, ham hưởng, ham cái mới. Đây là nguồn năng lượng lớn.
- Giao: khéo giao tế, dễ được lòng, quen nhiều người. "Đào hoa" trong Tử Vi không chỉ chuyện tình mà là sức hút nói chung.
- Học: học gì cũng nhanh, nhiều tài vặt. Sách cổ còn gắn Tham Lang với tôn giáo, huyền học, như mặt kia của ham muốn là tìm cái vượt lên ham muốn.
Mặt trái: ôm nhiều thứ nên không sâu, sa đà hưởng lạc, dễ bị cuốn theo cám dỗ. Tham Lang miếu thì sức muốn thành sức làm. Tham Lang hãm, lại gặp sát tinh, thì sức muốn dễ thành sa đà. Sách có câu "Tham Lang nhập miếu thọ nguyên trường", ý là Tham Lang miếu chủ sống lâu, khỏe mạnh.
Tham Lang miếu, vượng, đắc, hãm ở 12 cung
Bảng dưới là độ sáng lá số của trang dùng (nền Học viện Lý số). Cách hiểu các mức xem Miếu vượng đắc hãm.
| Mức | Cung |
|---|---|
| Miếu / Vượng | Thìn, Tuất, Sửu, Mùi |
| Đắc | Dần, Thân |
| Hãm | Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Tỵ, Hợi |
Đây là bảng lệch nhiều nhất giữa nguồn Việt và nguồn Trung. Bảng in kèm một bản Toàn Thư tiếng Trung phổ biến trên mạng ghi Tham Lang miếu ở Thìn, Tuất, Mùi, vượng ở Tý, Ngọ, và chỉ hãm ở Tỵ, Hợi. Nghĩa là ở Tý, Ngọ, nguồn Việt nói hãm còn nguồn Trung nói vượng. Có thầy giải thích: Tham Lang ở Tý, Ngọ có sao mạnh nhưng tính đào hoa lộ rõ (Tý, Ngọ, Mão, Dậu là bốn cung "đào hoa"), nên chấm theo sức sao thì vượng, chấm theo hệ quả thì hãm. Trang dùng bảng Việt; khi đọc lá số ở nơi khác thấy Tham Lang Tý vượng, đó là khác bảng.
Tham Lang ở Mệnh tại 12 vị trí: đồng cung, xung chiếu, tam hợp
Bảng dưới chạy đủ 12 vị trí. Quan Lộc cách Mệnh 4 cung thuận, Tài Bạch cách 8 cung thuận; "trống" là cung không có chính tinh.
| Mệnh | Độ sáng | Đồng cung | Xung chiếu | Quan Lộc | Tài Bạch |
|---|---|---|---|---|---|
| Tý | Hãm | — | Ngọ: Tử Vi (miếu) | Thìn: Thất Sát (hãm) | Thân: Phá Quân (hãm) |
| Sửu | Miếu | Vũ Khúc (miếu) | Mùi: trống | Tỵ: Tử Vi, Thất Sát (miếu) | Dậu: Liêm Trinh, Phá Quân (hãm) |
| Dần | Đắc | — | Thân: Liêm Trinh (miếu) | Ngọ: Thất Sát (miếu) | Tuất: Phá Quân (đắc) |
| Mão | Hãm | Tử Vi (bình) | Dậu: trống | Mùi: Liêm Trinh, Thất Sát (đắc) | Hợi: Vũ Khúc, Phá Quân (hãm) |
| Thìn | Miếu | — | Tuất: Vũ Khúc (miếu) | Thân: Thất Sát (miếu) | Tý: Phá Quân (miếu) |
| Tỵ | Hãm | Liêm Trinh (hãm) | Hợi: trống | Dậu: Vũ Khúc (đắc), Thất Sát (hãm) | Sửu: Tử Vi (đắc), Phá Quân (miếu) |
| Ngọ | Hãm | — | Tý: Tử Vi (đắc) | Tuất: Thất Sát (hãm) | Dần: Phá Quân (hãm) |
| Mùi | Miếu | Vũ Khúc (miếu) | Sửu: trống | Hợi: Tử Vi (đắc), Thất Sát (miếu) | Mão: Liêm Trinh, Phá Quân (hãm) |
| Thân | Đắc | — | Dần: Liêm Trinh (miếu) | Tý: Thất Sát (miếu) | Thìn: Phá Quân (đắc) |
| Dậu | Hãm | Tử Vi (bình) | Mão: trống | Sửu: Liêm Trinh, Thất Sát (đắc) | Tỵ: Vũ Khúc, Phá Quân (hãm) |
| Tuất | Miếu | — | Thìn: Vũ Khúc (miếu) | Dần: Thất Sát (miếu) | Ngọ: Phá Quân (miếu) |
| Hợi | Hãm | Liêm Trinh (hãm) | Tỵ: trống | Mão: Vũ Khúc (đắc), Thất Sát (hãm) | Mùi: Tử Vi (đắc), Phá Quân (miếu) |
Quy luật rút ra:
- Quan Lộc luôn có Thất Sát, Tài Bạch luôn có Phá Quân. Đó là bộ Sát Phá Tham, luôn tam hợp. Đọc thêm Thất Sát thủ Mệnh và Phá Quân thủ Mệnh.
- Tham Lang luôn gặp một sao "đầu đàn" của chòm Tử Vi. Hoặc đồng cung (Tử Vi ở Mão, Dậu; Vũ Khúc ở Sửu, Mùi; Liêm Trinh ở Tỵ, Hợi), hoặc xung chiếu (Tử Vi ở Tý, Ngọ; Liêm Trinh ở Dần, Thân; Vũ Khúc ở Thìn, Tuất). Mỗi cặp Tham Lang – Tử/Vũ/Liêm xuất hiện đúng ở bốn vị trí.
- Đồng cung thì đối diện trống. Sáu vị trí Tham Lang có bạn đồng cung đều có cung Thiên Di không chính tinh.
- Hai cực của Sát Phá Tham. Ở Thìn, Tuất, cả ba sao Sát Phá Tham đều miếu. Ở Tý, Ngọ, cả ba đều hãm. Các vị trí khác thì sáng tối xen nhau.
Ba cặp đồng cung có tên: Tử Tham (Mão, Dậu), Vũ Tham (Sửu, Mùi), Liêm Tham (Tỵ, Hợi). Đọc cùng Tử Vi thủ Mệnh, Vũ Khúc thủ Mệnh, Liêm Trinh thủ Mệnh. Cách đọc tam phương xem Tam phương tứ chính trong Tử Vi.
Tham Lang gặp Tứ Hóa, Lộc Tồn, lục cát, lục sát
Tứ Hóa
Theo bảng Tứ Hóa các can mà trang dùng, Tham Lang được hóa ở ba can:
| Can năm | Năm sinh ví dụ | Tham Lang hóa | Cách hiểu phổ biến |
|---|---|---|---|
| Mậu | 1988, 1998, 2008 | Hóa Lộc | Ham muốn có chỗ thành tiền, giao tế sinh lợi |
| Kỷ | 1989, 1999, 2009 | Hóa Quyền | Ham muốn thành tham vọng, giành vị trí |
| Quý | 1993, 2003, 2013 | Hóa Kỵ | Ham muốn bị vướng hoặc bị chặn |
Tham Lang không hóa Khoa. Hóa Kỵ của tuổi Quý được đọc hai chiều: hoặc ham mà không tới, hoặc chính cái vướng làm Tham Lang bớt phóng túng, thành chuyên tâm. Một số trang chép đảo can Quý thành Tham Lang hóa Khoa; bảng phổ biến và cả bảng trang dùng là Tham Lang hóa Kỵ. Xem Hóa Kỵ là gì, Hóa Lộc là gì, Hóa Quyền là gì.
Sao đồng cung cũng mang hóa vào Mệnh: Vũ Tham (Sửu, Mùi) tuổi Kỷ có cả Vũ Khúc Lộc lẫn Tham Lang Quyền, tuổi Nhâm có Vũ Khúc Kỵ; Liêm Tham (Tỵ, Hợi) tuổi Giáp có Liêm Trinh Lộc, tuổi Bính có Liêm Trinh Kỵ; Tử Tham (Mão, Dậu) tuổi Ất có Tử Vi Khoa, tuổi Nhâm có Tử Vi Quyền.
Lộc Tồn
Tham Lang ở tứ mộ (chỗ miếu) không bao giờ có Lộc Tồn đồng cung. Ở các cung còn lại: tuổi Quý có Lộc Tồn ở Tý, đúng năm Tham Lang hóa Kỵ, thành thế Lộc Tồn và Kỵ cùng cung, bị Kình Dương (Sửu), Đà La (Hợi) kẹp. Tuổi Mậu có Lộc Tồn ở Tỵ, nếu Mệnh là Liêm Tham ở Tỵ thì có cả Tham Lang hóa Lộc lẫn Lộc Tồn tại chỗ.
Lục cát, lục sát và cái lạ của Tham Lang
Với đa số chính tinh, Hỏa Tinh, Linh Tinh là sát. Tham Lang là ngoại lệ nổi tiếng: gặp Hỏa hoặc Linh thì thành cách Hỏa Tham, Linh Tham (xem dưới). Còn Kình Dương, Đà La với Tham Lang ở Tý, Hợi, Dần thì sách xếp vào các cách đào hoa không hay. Không, Kiếp được một số thầy cho là "kìm" bớt Tham Lang, biến ham muốn vật chất thành hướng về tinh thần; thầy khác coi là hao tán. Văn Xương, Văn Khúc đi với Tham Lang làm tài nghệ, văn chương nổi; các sách không thống nhất thế này là cát hay chỉ là khéo bề ngoài. Chi tiết các sao ở Lục cát lục sát Tử Vi.
Các cách cục nổi tiếng của Tham Lang thủ Mệnh
Hỏa Tham, Linh Tham. Tham Lang gặp Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh. Toàn Thư viết Tham Lang gặp Hỏa Linh ở tứ mộ thì "hào phú gia tư", và Thìn, Tuất tốt hơn Sửu, Mùi. Đây là cách phát nhanh, đến nhanh cũng có thể đi nhanh. Bộ kiểm tra của trang chấp nhận Hỏa hoặc Linh ở Mệnh hoặc tam phương tứ chính. Lưu ý: cách an Hỏa Tinh, Linh Tinh của trang có chỗ khác các nguồn phổ biến, đã ghi ở bài Lục cát lục sát Tử Vi.
Tham Vũ đồng hành (Sửu, Mùi). Tham Lang và Vũ Khúc cùng miếu. Câu phú nổi tiếng "Tham Vũ bất phát thiếu niên nhân": người Tham Vũ không phát lúc trẻ, thường sau ba mươi mới vững. Tuổi Kỷ được khen vì hai hóa tốt dồn vào Mệnh.
Tham Lang ở Thìn, Tuất. Thế miếu đẹp nhất: Tham Lang một mình, Vũ Khúc miếu chiếu từ đối diện, Thất Sát và Phá Quân tam hợp cũng miếu. Thìn, Tuất lại là Thiên La, Địa Võng, nên có thầy đọc là sức mạnh lớn nhưng bị bó, phải qua thử thách mới bung ra.
Đào hoa phạm chủ (Tử Tham ở Mão, Dậu). Sao đào hoa ngồi cùng đế tinh, Tham Lang hãm, Tử Vi bình, đối diện trống. Sách lo đế tinh bị đào hoa làm lệch. Cách đọc hiện đại mềm hơn: người có sức hút, thích hưởng thụ, cần tự đặt giới hạn.
Phiếm thủy đào hoa, Phong lưu thái trượng. Toàn Thư: Tham Lang ở Hợi, Tý gặp Kình Dương hoặc Đà La gọi là "phiếm thủy đào hoa" (hoa đào trôi trên nước); Tham Lang cùng Đà La ở Dần gọi là "phong lưu thái trượng". Tính bằng code theo cách an Kình Đà của trang: Kình Dương ở Tý chỉ có ở tuổi Nhâm, Đà La ở Hợi chỉ có ở tuổi Quý, Đà La ở Dần chỉ có ở tuổi Ất. Sách xưa đọc hai cách này nặng về chuyện tình ái lôi thôi. Đó là diễn giải truyền thống, mang nhiều định kiến thời cũ, không nên dùng để phán xét ai.
Liêm Tham ở Tỵ, Hợi. Cả hai sao đều hãm, đối diện trống. Sách cũ đánh giá thấp thế này, gắn với chuyện thị phi, vướng pháp lý. Cách đọc cân bằng: hai sao cùng mạnh về ham muốn, cần một khuôn phép rõ để dồn sức vào việc.
Sao Tham Lang ở cung Phu Thê
Tính ngược từ Phu Thê, Tham Lang ở Phu Thê khi và chỉ khi Mệnh có Thiên Tướng (kiểm 129.600 lá số mẫu, không có ngoại lệ). Nên đọc cùng bài Thiên Tướng thủ Mệnh: người chỉn chu, giữ khuôn phép lại có bạn đời sôi nổi, nhiều sức sống.
Sách mô tả Tham Lang ở Phu Thê là bạn đời có sức hút, khéo léo, thích vui, nhiều tài. Mặt cần để ý là tình cảm dễ có sóng, nhất là khi Tham Lang hãm gặp Kình Đà, Đào Hoa, Hồng Loan. Nhiều sách khuyên người có Tham Lang ở Phu Thê lập gia đình muộn hơn thì ổn hơn. Sắc thái đổi theo sao đồng cung: Tử Tham (Mão, Dậu), Vũ Tham (Sửu, Mùi), Liêm Tham (Tỵ, Hợi). Đọc cùng Hóa Kỵ ở Phu Thê nếu tuổi Quý.
Với chính người Tham Lang thủ Mệnh, cung Phu Thê luôn có Thiên Phủ: một mình ở cung âm, đi cùng Tử Vi, Vũ Khúc hoặc Liêm Trinh ở cung dương. Người ham trải nghiệm hay có hoặc cần một bạn đời vững, biết giữ. Xem Thiên Phủ thủ Mệnh.
Quan Lộc luôn có Thất Sát: sự nghiệp gắn với cạnh tranh, khai phá, áp lực. Thất Sát miếu khi Tham Lang ở Dần, Thân, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; hãm khi Tham Lang ở Tý, Ngọ, Tỵ, Hợi.
Tài Bạch luôn có Phá Quân: tiền đến theo chu kỳ phá rồi lập, vào mạnh ra mạnh. Ở Tỵ, Hợi, Phá Quân đi với Tử Vi (đắc) ở Tài Bạch, được coi là có người đỡ chuyện tiền.
Nghề nghiệp và môi trường hợp với Tham Lang thủ Mệnh
Những nghề thường được cho là hợp khí chất Tham Lang:
- Kinh doanh, bán hàng, quan hệ khách hàng, ngoại giao: chữ "giao".
- Giải trí, nghệ thuật biểu diễn, ẩm thực, du lịch, làm đẹp: chữ "đào hoa", chữ "hưởng".
- Khởi nghiệp, khai phá thị trường mới, theo khí chất Sát Phá Tham.
- Nghiên cứu tôn giáo, huyền học, tâm linh: mặt "tìm cái vượt lên ham muốn" mà sách cổ hay nhắc.
Môi trường hợp là nơi gặp nhiều người, có đổi mới, thưởng theo kết quả. Môi trường kém hợp là nơi đều đều, ít người, đòi làm một việc suốt đời không đổi.
Điểm cần giữ:
- Chọn ít mà theo tới cùng. Đa tài là lợi thế, nhưng nghề đỉnh cần chiều sâu.
- Đặt giới hạn cho hưởng thụ: tiền, rượu, giờ giấc. Người Tham Lang dễ được rủ và khó từ chối.
- Rõ ràng trong tình cảm để sức hút không thành phiền phức.
Đây là truyền thống diễn giải, không phải kết luận khoa học. Mở lá số Tử Vi để xem Tham Lang của bạn miếu hay hãm, có gặp Hỏa Linh hay hóa gì.
Câu hỏi thường gặp
Sao Tham Lang thủ Mệnh tốt hay xấu?
Không tốt, không xấu tuyệt đối. Tham Lang miếu ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi được coi là thế mạnh: sức sống, giao tế, đa tài. Tham Lang hãm gặp sát tinh thì dễ sa đà. Còn phải xét Tứ Hóa, Hỏa Linh, và vì Tham Lang luôn trong bộ Sát Phá Tham, đời thường có bước ngoặt.
Tham Lang miếu địa ở đâu?
Theo bảng trang dùng: miếu ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; đắc ở Dần, Thân; hãm ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Tỵ, Hợi. Bảng tiếng Trung khác ở Tý, Ngọ (ghi vượng) và chỉ xếp hãm ở Tỵ, Hợi.
Hỏa Tham, Linh Tham là gì?
Là cách Tham Lang gặp Hỏa Tinh hoặc Linh Tinh. Sách cho là phát nhanh, đột ngột, đẹp nhất khi Tham Lang ở tứ mộ, nhất là Thìn, Tuất. Đến nhanh thì cũng có thể đi nhanh, nên sách luôn kèm lời khuyên giữ của.
Tham Vũ bất phát thiếu niên nhân nghĩa là gì?
Là câu phú về Tham Lang và Vũ Khúc đồng cung ở Sửu, Mùi: người có thế này thường không phát lúc trẻ, mà thành đạt muộn, sau tuổi ba mươi. Ý nhấn mạnh sự tích lũy bền bỉ.
Tham Lang hóa Kỵ năm nào?
Theo bảng phổ biến, tuổi Quý (1993, 2003, 2013...) có Tham Lang hóa Kỵ. Tuổi Mậu có Tham Lang hóa Lộc, tuổi Kỷ có Tham Lang hóa Quyền.
Tham Lang ở cung Phu Thê có phải lấy vợ chồng đa tình?
Không nên hiểu thế. Sách mô tả bạn đời có sức hút, vui vẻ, nhiều tài; chuyện tình cảm có sóng chỉ được nhắc khi Tham Lang hãm và gặp thêm Kình Đà hoặc sao đào hoa. Tham Lang ở Phu Thê luôn đi kèm Mệnh có Thiên Tướng.